- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn T "Tàng trử trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH QUẢNG TRỊ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HS-ST Ngày 16-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết;
Bà Võ Thị Kim Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1992 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố T, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết); con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ năm; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Văn T bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022, sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 07/4/2022, Trần Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực đường Bùi Dục Tài (thuộc khu phố 2, phường X, thành phố Đ) gặp một người thanh niên tên M (không rõ lai lịch và địa chỉ) mua được 02 viên ma túy hồng phiến với giá 70.000 đồng. Sau khi có ma túy, Tường cất giấu tại tay phải rồi đi tìm địa điểm để sử dụng. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Bùi Dục T với đường Đinh Tiên H (thuộc khu phố 2, phường X, thành phố Đ) thì bị Tổ công tác Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa 02 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY.
Tại bản kết luận giám định số 406/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
02 (hai) viên nén hình trụ tròn, màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi đến giám định có khối lượng 0,1903 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 81/CT-VKS-ĐH ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn T từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xác định được:
Với mục đích mua ma túy để sử dụng, vào khoảng 21 giờ ngày 07/4/2022, Trần Văn T đi đến khu vực đường Bùi Dục T (thuộc khu phố 2, phường X, thành phố Đ) tìm gặp một người thanh niên tên M (không rõ lai lịch và địa chỉ) mua được 02 viên ma túy hồng phiến với giá 70.000 đồng. Khi đang đi bộ tìm nơi tiêu thụ thì bị Tổ công tác Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Khối lượng chất ma túy 0,1903 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân gây mất tình hình an ninh trật tự ở địa phương, gây ra các tệ nạn xã hội khác. Hiện nay trên địa bàn thành phố Đ, tệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân, nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem cho bị cáo.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cùng với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Nhằm góp phần ngăn chặn tệ nạn ma túy đang có chiều hướng gia tăng trong cộng đồng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra không xác định được nam thanh niên Mậm là người đã bán ma túy cho Trần Văn T nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, bao gói ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (16/8/2022) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn T 12 (Mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 07 tháng 4 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định có ký hiệu PS3A 077848, bên ngoài có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong.
(Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thành phố Đ; - Công an thành phố Đ; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HĐXX Võ Thị Kim Lan Nguyễn Thị Ánh Tuyết | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |