- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn lê trường H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 83/2022/HS-ST Ngày: 30/08/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Phước Hòa; 2. Ông Trần Tấn Phát. - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Hồng Vinh, Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo: Nguyễn Lê Trường H, sinh ngày 10/8/1984; Nơi sinh: tỉnh QN; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn VT (nay là thôn HT), xã HP, huyện NT, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1958; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1959; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không có; Về tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 282/QĐ-TA ngày 23/10/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh với thời gian cai nghiện là 18 tháng, chấp hành xong ngày 28/01/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính; Về nhân thân: - Bản án số 12/HSST ngày 02/12/2003 của Tòa án nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” ”; đã chấp hành xong. - Bản án số 551/2007/HSST ngày 11/6/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”; đã chấp hành xong - Bản án số 53/2011/HSST ngày 15/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện CS, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”; chấp hành xong ngày 17/01/2013; đã nộp tiền Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/4/2022, chuyển tạm giam từ ngày 05/5/2022; Bị cáo có mặt tại tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 28/4/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Lê Trường H điều khiển xe mô tô biển số 59T1-XXX.XX đến khu vực bến xe An Sương thuộc Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người thanh niên (không biết họ tên, địa chỉ) mua 500.000 đồng ma túy loại MDMA và Ketamine, 200.000 đồng ma túy loại Heroine. Mua được ma túy, H mang về phòng trọ ở quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh lấy mỗi loại 01 ít ra sử dụng, phần còn lại cất giấu vào trong túi xách của mình. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H mang theo ma túy điều khiển xe đến nhà nghỉ MA thuộc khu phố B, phường B1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh gặp anh Huỳnh Văn H1, sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú: thôn BM, xã NM, huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi, để tìm việc làm, khi đến nơi H nghỉ qua đêm cùng anh H1 tại phòng số 20. Đến khoảng 14 giờ ngày 29/4/2022, H thuê phòng riêng số 19 tại nhà nghỉ MA rồi chuyển sang ở trọ một mình, H lấy toàn bộ số ma túy bỏ vào bên trong chiếc vớ cuộn tròn lại bỏ vào trong chiếc giày bên trái rồi bỏ dưới nền gạch trong phòng, dụng cụ sử dụng ma túy để trên ghế. Vào lúc 18 giờ cùng ngày, Công an phường B1, thành phố Tây Ninh kiểm tra bắt quả tang H đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: Trong chiếc giày bên trái để dưới nền gạch 01 chiếc vớ màu đen được cuộn tròn, bên trong có 01 bịch nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng và 04 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 bịch nylon loại kẹp đầu bên trong chứa 01 viên nén màu cam không còn nguyên vẹn, 01 viên nén màu xanh không còn nguyên vẹn, chất rắn màu trắng và 01 bịch nylon loại kẹp đầu chứa 01 viên nén màu xanh. Trên ghế trong phòng 01 chai nhựa có chữ TANIPUWA trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa và 01 tẩu thủy tinh. Tại kết luận giám định số 541 ngày 03/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: - Mẫu chất bột màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon hàn kín và 04 gói giấy bạc gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Heroine; Khối lượng 0,3442 gam. - Mẫu 01 viên nén màu cam không còn nguyên vẹn (ký hiệu M2) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng 0,3141 gam. - Mẫu 01 viên nén màu xanh không còn nguyên vẹn (ký hiệu M3) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng 0,2252 gam. - Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M4) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Ketamine; Khối lượng 1,9655 gam. - Mẫu 01 viên nén màu xanh (ký hiệu M5) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng 0,5087 gam. Quá trình điều tra Nguyễn Lê Trường H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Lê Trường H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
* Kết quả thu giữ vật chứng: 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 541/KL-KTHS có dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt; 01 (một) xe mô tô biển số 59T1-XXX.XX, số máy: C52E-YYYYYY, số khung: 16CY-NNNNNN; 01 (một) chiếc vớ màu đen; 01 (một) chiếc giày màu đen bên trái; 01 (một) chai nhựa ghi chữ TANIPUWA trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một tẩu thủy tinh. Qua xác minh Nguyễn Lê Trường H không có tài sản nên không kê biên. * Bản cáo trạng số 78/CT-VKSTPTN ngày 10/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Lê Trường H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. * Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh trình bày bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt biij cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 541/KL- KTHS có dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt; 01 (một) chiếc vớ màu đen; 01 (một) chiếc giày màu đen bên trái; 01 (một) chai nhựa ghi chữ TANIPUWA trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một tẩu thủy tinh. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển số 59T1-XXX.XX, số máy: C52E-YYYYYY, số khung: 16CY- NNNNNN. * Biij cáo H không tự bào chữa, không tranh luận. * Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của bị cáo nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào lúc 18 giờ ngày 29/4/2022, tại khu phố B, phường B1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Lê Trường H bị bắt quả tang tàng trữ trái phép
0,3442 gam ma túy loại Heroine; 1,048 gam ma túy loại MDMA và 1,9655 gam ma túy loại Ketamine được cất trong 01 chiếc vớ màu đen được cuộn tròn bên trong chiếc giày bên trái để dưới nền gạch nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả hành vi của mình nhưng vẫn cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần phải xét xử nghiêm đối với bị cáo. [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [6] Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. [7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 541/KL-KTHS có dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc vớ màu đen; 01 (một) chiếc giày màu đen bên trái; 01 (một) chai nhựa ghi chữ TANIPUWA trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một tẩu thủy tinh do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. + Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển số 59T1-XXX.XX, số máy: C52E- YYYYYY, số khung: 16CY-NNNNNN, do đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. [9] Đối với người thanh niên bán trái phép ma tuý cho biij cáo H, do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh chưa làm việc được, khi làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với anh Huỳnh Văn Hết không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trường H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2022. [2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 541/KL-KTHS có dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt; 01 (một) chiếc vớ màu đen; 01 (một) chiếc giày màu đen bên trái; 01 (một) chai nhựa ghi chữ TANIPUWA trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một tẩu thủy tinh. + Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển số 59T1-XXX.XX, số máy: C52E- YYYYYY, số khung: 16CY-NNNNNN. Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2022 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh. [3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016: Bị cáo Nguyễn Lê Trường H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. [4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. [5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TPTN; - Đội ĐTTP về TTATXH; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - CC THADS TPTN; - THAHS - Phòng Lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; Lê Thị Lan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |