vanban.org

Bản án 83/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,69 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.

Tiếp tục tạm giữ 01điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A12, số IMEI 869644050769673, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong để đảm bảo công tác thi hành án. Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thu H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thu H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,69 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI,
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HS-ST
Ngày 18 – 8 – 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Minh

2. Ông Bùi Xuân Hưởng

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2022/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Bị cáo: PHẠM THU H; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 21 tháng 7 năm 1998 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Bị cáo có chồng là Phàn Minh H và 01 người con sinh năm 2017.

Con ông Phạm Đức T và bà Phạm Thị H.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/5/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 14/5/2022, Phạm Thu H một mình điều khển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 958.00 đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Thủ Dầu 1 và đường Lương Khánh Thiện thuộc tổ 06, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai mua của một người nam giới (không quen biết) đang đứng trước cửa nhà văn hóa được 02 túi nilon ma túy đá với giá 1.500.000đồng, mục đích về sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, Phạm Thu H cất 02 gói ma tuý vào đuôi xe mô tô đang điều khiển rồi quay về nhà. Khi về đến trước cửa số nhà 307, đường Lương Khánh Thiện, tổ 6, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Công an phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 126/GĐMT ngày 17/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 6,02 gam các tinh thể rắn, màu trắng thu giữ của Phạm Thu H ngày 14/5/2022 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai gửi đến giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 72/CT-VKS-TPLC ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 38; điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thu H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và các vấn đề khác đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Thu H nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bi ̣ cáo : Ngày 14/5/2022, bị cáo Phạm Thu H đã có hành vi tàng trữ 6,02 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 6,02 gam Methamphetamine của bị cáo Phạm Thu H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật , mă ̣c dù biết được việc tàng trữ , sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai, vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có ông nội là Phạm Trọng Thể được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 5,69 gam gam Methamphetamine còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO A12, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí. Vì vậy tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động OPPO A12, để đảm bảo công tác thi hành án. Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thu H.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 958.00, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý, chiếc xe này là xe của anh Phạm Thế Lâm cho bị cáo mượn, anh Lâm không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Thế Lâm là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Phạm Thu H 5 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo, ngày 15/5/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,69 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thu H ngày 14/5/2022 tại tổ 6, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

Tiếp tục tạm giữ 01điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A12, số IMEI 869644050769673, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong để đảm bảo công tác thi hành án.

Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thu H

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2022)

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ