- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HS-ST Ngày: 15-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thế Quang;
Ông Phạm Ngọc Dụ.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Phương-Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh năm 1969 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Th, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị N đều đã chết; bị cáo có vợ là Phạm Thị , sinh năm 1971 và có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/01/2010 bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/9/2022, đến ngày 27/9/2022 chuyển tạm giam; tại phiên tòa bị cáo có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Xuân K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 21/9/2022, Trần Văn H đi bộ một mình từ nhà ở thôn N, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đến khu vực thôn Đ, xã X, huyện X tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây H gặp một người đàn ông lạ mặt không biết tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có bán ma túy. H hỏi mua 100.000 đồng Heroine. Người đàn ông đồng ý nhận tiền rồi đưa cho H 01 gói nhỏ được gói bằng giấy báo, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. H kiểm tra xác định là Heroine cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về tìm nơi sử dụng. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày H đang đi bộ trên đường dân cư thuộc khu vực thôn N, xã X, huyện X thì bị tổ công tác Công an xã Xuân Hòa, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt của tang. H tự giác giao nộp 01 gói giấy nhỏ vừa mua và khai nhận đó là Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy H giao nộp ký hiệu M.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn H, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Theo Kết luận giám định số 1406/GĐKTHS ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine; khối lượng: 0,152 gam.
Cáo trạng số 78/CT-VKS, ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Trần Văn Hoạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi như đã nêu trong Cáo trạng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh và hình phạt:
-Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt:
-Xử phạt Trần Văn H từ 24 đến 27 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 21/9/2022, Trần Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,152 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang tại thôn N, xã X huyện X, tỉnh Nam Định. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn H cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra phiên tòa ngày hôm nay là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo Trần Văn H là người nghiện, có nhận thức đầy đủ về tác hại, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội về ma túy, song bị cáo vẫn phạm tội. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Từ những phân tích trên, cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng, đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và phù hợp với chính sách pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghiện ma tuý nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số Heroine đã thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người na thanh niên đã bán ma túy cho Hoạt, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể ngoài ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1406/GĐKTHS ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. (Hàm lượng 0,152 gam Heroine).
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 10/CCTHA ngày 12/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện ; - Chi cục THADS huyện - Công an huyện ; - UBND xã - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Ngọc Long |