- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V Tr Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HS-ST Ngày 26-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Hưng
Ông Cụt Xuân Ninh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: V Tr Q, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1970 tại huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối H N, thị trấn Q H, huyện Q H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V Tr T (Đã chết) và con bà Ng Th Th; vợ: Ng Th Th (Đã ly hôn), con: Có 01 con; Tiền án: Ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Q H, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 20/4/2020 chấp hành xong hình phạt; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Q H, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 3 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh V Th Ng, sinh năm 1997. Trú tại: Khối H N, thị trấn Q H, huyện Q H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Chị L Th Nh, sinh năm 1997, trú tại bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Anh L V X, sinh năm 1977, trú bản X L, Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh L V M. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối năm 2021, V Tr Q đến nhà của Ch V Ph, sinh năm 1987, trú tại bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An chơi, tại nhà Phi, Quý gặp L Th Nh, sinh năm 1997, trú tại bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Quý hỏi Nh nơi bán ma túy thì Nh giới thiệu cho Quý biết có L V X, sinh năm 1977, trú bản X L, Y H, huyện T D (là bố của Nh) có bán ma túy. Sau đó, Quý lấy số điện thoại của Nhi (có số thuê bao 0974.032.801) lưu trong danh bạ là “Em Nh (T D) và số điện thoại của X (có số thuê bao 0369.539.999 và 0914.927.999) lưu trong danh bạ là “Bố Nh”. Đến ngày 04/3/2022, Quý gọi điện cho X nhưng không liên lạc được. Q đã nhắn tin hỏi Nh là X có bán ma túy không thì Nh trả lời có. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/3/2022, Q gọi điện được cho X và nói: “Em là bạn của Nh, anh cho em mua tám chỉ Heroine, giá bao nhiêu?" X trả lời: “Giá hai mươi tư triệu. Sau đó Q hẹn X mai đến mua thì anh X đồng ý. Đến khoảng 10 giờ ngày 06/3/2022, Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Yupiter, biên kiểm soát 37H1-411.98 đi đến bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An để mua ma túy với Xuyên. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến bản X L, Quý gọi điện cho X nói: “Em đang đứng ở góc cua cuối bản X L đây” thì Xuyên nói Q chờ. Một lúc sau thì X đến và đưa cho Q 01 gói Heroine gói bằng bao potylen màu vàng, Q cầm lấy gói Heroine rồi đưa cho X số tiền 24.000.000đ được gói trong bao potylen màu trắng. X cầm lấy tiền rồi đi về. Còn Q cất gói Heroine trong hộp đựng bình ắc quy xe máy rồi điều khiển xe máy đi về. Vào 12 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 3 năm 2022, khi V Tr Q đang điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu đen, mang biển kiểm soát 37H1-411.98 đi trên đường Quốc lộ 48C theo hướng xã Yên Hoà, huyện T D đi xã Nga My, huyện T D, khi đến bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An, thì bị tổ công tác Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang V Tr Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong hộp đựng Ắc quy xe máy mà Quý đang điều khiển 01 (Một) bao Potylen màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng (Đã qua sử dụng) bên trong gắn thẻ sim 0975.837.650 và 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu đen, mang biển kiểm soát 37H1-411.98. V Tr Q khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine của Quý mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số: 342/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của V Tr Q gửi tới giám định là ma tuý (Heroine), có khối lượng 29 (Hai mươi chín) gam.
Bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-TD ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố V Tr Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: V Tr Q mức án từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 29g Heroine (Đã lấy 0,5 để đi giám định) và thẻ sim 0975.837.650; Bán đấu giá sung ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng (Đã qua sử dụng).
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V Tr Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 12 giờ 30 phút, ngày 06/3/2022 tại bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An, V Tr Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 29 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện T D phát hiện và bắt quả tang. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Q H, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 20/4/2020 chấp hành xong hình phạt, bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, bố mẹ đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân Huy chương khánh chiến nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Theo lời khai của V Tr Q, nguồn gốc số Heroine bị Công an thu giữ là doQuýđược L Th Nh (Sinh năm 1997, trú tại bản X L, xã Y H, huyện T D) giới thiệu mua của L V X (Sinh năm 1977 - Là bố của Nh)ở bản X L, xã Y H, huyện T D. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An triệu tập Nhi, Xuyên để lấy lời khai và tiến hành đối chất, nhưng L V X không thừa nhận việc bán ma túy cho Q, còn L Th Nh cũng khai nhận không giới thiệu X bán ma túy cho V Tr Q. Quá trình trao đổi giữa V Tr Q, L Th Nh và L V X,thì cũng không có ai biết và chứng kiến. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T D không có căn cứ để xử lý L V X và L Th Nh.
Đối với V Th Ng là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu đen, mang biển kiểm soát 37H1-411.98. Do anh Ng không biết việc V Tr Q sử dụng xe của mình để đi mua ma tuý, nên hành vi của V Th Ng không cấu thành tội phạm.
Xử lý vật chứng:
+ 29g Heroine (đã lấy 0,5g đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 thẻ sim 0975.837.650 được gắn trong điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng thu giữ của V Tr Q không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng (Đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án cần bán đấu giá sung ngân sách nhà nước.
+ 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu đen, mang biển kiểm soát 37H1-411.98. Quá trình điều tra, xác minh được chủ sở hữu hợp pháp là của anh V Th Ng (Sinh năm 1997, trú tại khối H N, thị trấn Q H, huyện Q H). Do anh Ng không biết việc V Tr Q lấy xe của mình để đi mua ma tuý nên đã trả lại cho V Th Ng là đúng quy định của pháp luật.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo V Tr Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: V Tr Q 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án là Heroine;
+ Tiêu hủy 01 thẻ sim 0975.837.650 được gắn trong điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng thu giữ của V Tr Q.
+ Bán đấu giá sung ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng (Đã qua sử dụng).
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận số 85 ngày 07.7.2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo V Tr Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 26/8/2022. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND thị trấn Q H; - Người CQLVNVLQ; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |