- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: PHẠM TIẾN D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HS-ST Ngày 21-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ma Quốc Thể.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tất Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2022 đối với:
Bị cáo: PHẠM TIẾN D – Sinh ngày: 10-10-1981 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Văn K1 – Sinh năm: 1952; Con bà: Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1950; Vợ: Hoàng Thị Thanh T1 – Sinh năm: 1979; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.
Bị cáo Phạm Tiến D hiện đang tại ngoại theo Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn số: 61/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
Bị hại: Anh Ly A N – Sinh năm: 2003 (đã chết). Người đại diện theo pháp luật của bị hại anh Ly A N: Ông Ly A V – Sinh năm: 1974; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Lùng Thị M1 – Sinh ngày: 01/01/2005; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang. Người đại diện theo pháp luật của chị Lùng Thị M1: Ông Lùng Văn T2 – Sinh năm: 1960; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang (là bố đẻ của chị M1). Vắng mặt.
- Công ty TNHH vận tải Duy Đông. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Duy Đ1 – Sinh năm: 1984; Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Ông Bùi Văn Q – Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Thôn H, xã O, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Văn V1; Địa chỉ: Thôn N1, xã N2, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01-6-2021, ông Trần Duy Đ1 – Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH vận tải Duy Đông ký hợp đồng lao động thuê bị cáo Phạm Tiến D với công việc là lái xe ô tô BKS 61B-015.38 đưa đón công nhân ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến Khu công nghiệp Bá Thiện 2 thuộc địa phận huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21-02-2022, bị cáo Phạm Tiến D điều khiển xe ô tô BKS 61B-015.38 (bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định) chở công nhân từ Khu công nghiệp Bá Thiện 2 thuộc địa phận huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (theo hợp đồng lao động). Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo D điều khiển xe ô tô đến Km49 + 750 Quốc lộ 2C thuộc địa phận thôn Tân Bình, xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đoạn đường này là đoạn đường cua về bên trái theo chiều đi của bị cáo D, xe ô tô đi ở phần đường bên phải theo chiều đi. Lúc này, bị cáo D phát hiện xe mô tô BKS 23G1-011.50 do anh Ly A N điều khiển chở chị Lùng Thị M1 đi ngược chiều đến, trong đoạn đường cua đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của anh N. Thấy vậy, bị cáo D điều khiển xe ô tô đánh lái sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình để tránh va chạm, cùng lúc này anh N cũng điều khiển xe mô tô đi về phần bên phải theo chiều đi của mình, thì phần đầu xe mô tô do anh N điều khiển va chạm với phần ba đờ sốc trước bên phải của xe ô tô do bị cáo D điều khiển. Hậu quả, anh Ly A N bị thương phải đi bệnh viện điều trị, đến ngày 05-3-2022 anh Ly A N chết; chị Lùng Thị M1 bị thương nhẹ tự điều trị tại nhà; xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng.
Tại Biên bản Khám nghiệm hiện trường hồi 00 giờ 52 phút ngày 22-02-2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xác định: Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 09m, phần đường bên phải rộng 04,36m, lề đường bên phải rộng 01m, lề đường bên trái rộng 40cm, từ hiện trường đi hướng Vĩnh Phúc đường thẳng trong khoảng 30m sau đó vòng cua phải, đi hướng Tuyên Quang đường thẳng trong khoảng 10m sau đó vòng cua trái. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang, lấy mép đường bên phải làm mép chuẩn để đo vuông góc đến các vị trí đầu vết, phương tiện. Tại hiện trường trên lòng đường phát hiện vùng vết cày trượt mặt đường đứt quãng (đặt số 1), vùng vết có chiều hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang, dài 3,75m, chỗ sâu nhất 0,5 cm, phần đầu và cuối của vùng vết là vết đơn, phần thân gồm nhiều vết cày trượt tạo thành, đầu vùng vết rộng 01 cm, tâm đầu vùng đo cách mép chuẩn là 4,96m, cuối vùng vết rộng 01 cm và trùng với đầu để chân trước bên trái xe mô tô, tâm cuối vùng vết đo cách mép chuẩn là 4,78m.
Tại Biên bản Khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 08 giờ ngày 22-02-2022 đối với xe ô tô BKS 61B-015.38: Góc bên phải cản trước bị gãy vỡ kích thước (1,1 x 0,5) m, nhựa bảo vệ đèn xi nhan bên phải bị nứt vỡ, góc phía dưới bên phải của kính chắn gió trước có vùng nứt vỡ kích thước (0,6 x 1,3) m, mặt ngoài cánh cửa trước bên phải và thân xe có vùng vết tỳ trượt sạch bụi đất bám dính chất màu đen kích thước (1,5 x 0,4) m chiều hướng vết từ trước về sau.
Tại Biên bản Khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 08 giờ 50 phút ngày 22-02-2022 đối với xe mô tô BKS 23G1-011.50: Toàn bộ đèn chiếu sáng, hệ thống đèn xi nhan bị gãy vỡ rời khỏi xe, 1/2 nhựa thân xe phía trước bị gãy vỡ hoàn toàn, cổ phốt đằng trước bị gãy rời, vành bánh trước bằng kim loại bị móp méo, bung bật 01 nan hoa, phần bánh lốp bám dính sơn màu xanh, mặt trước ống giảm sóc bên phải có vùng tỳ trượt bám dính tạp chất màu xanh.
Tại Kết luận giám định số: 271/KL-KTHS ngày 09-3-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Các dấu vết ở đầu xe mô tô biển số 23G1-011.50 hình thành do va chạm với các dấu vết tại góc trước dưới ba đờ xốc bên phải đến mặt ngoài trước dưới cửa xe bên phải của xe ô tô biển số 61B
- 015.38 tạo nên là phù hợp. Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô biển số 23G1-011.50 và xe ô tô biển số 61B-015.38 tại phía trước điểm đầu vùng vết cày trượt mặt đường (vị trí số 1 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông) và thuộc phần đường bên trái theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang là phù hợp. Không có căn cứ xác định vận tốc của xe mô tô biển số 23G1-011.50 và xe ô tô biển số 61B-015.38 trước và trong khi xảy ra va chạm.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 114/KL-KTHS ngày 05-4-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Ly A N: Đa chấn thương (chuấn thương sọ não và chấn thương ngực), cấp cứu và điều trị không hồi phục. Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể Ly A N: Các dấu vết tổn thương trên thân thể Ly A N do tác động tương hỗ với vật tầy gây ra.
Ngày 09-3-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với chị Lùng Thị M1. Ngày 12-3-2022, chị Lùng Thị M1 có đơn từ chối giám định thương tích.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 20, 21 cùng ngày 23-3-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sơn Dương, kết luận: Xe mô tô biển số đăng ký 23G1-011.50 bị thiệt hại 1.052.500 đồng; xe ô tô biển số đăng ký 61B-015.38 bị thiệt hại 3.275.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Tiến D. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Phạm Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tiến D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Giao bị cáo Phạm Tiến D về Ủy ban nhân dân thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thỏa thuận và bồi thường xong về phần dân sự, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, không đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại:
+ 01 xe ô tô BKS 61B-015.38, nhãn hiệu KIA, số loại GRANBIR cho ông Bùi Văn Quyền là chủ sở hữu hợp pháp.
+ 01 Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 61B-015.38; 01 Giấy Chứng nhận kiểm định của xe ô tô BKS 61B-015.38; 01 Giấy Chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và Giấy Chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số 0593916 cho bị cáo Phạm Tiến D.
+ 01 xe mô tô BKS 23G1-011.50 cho ông Trần Duy Đ1.
Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại
+ 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E số 3401117340632 mang tên Phạm Tiến D cho bị cáo Phạm Tiến D.
+ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe mô tô BKS 23G1-011.50 cho ông Trần Duy Đ1.
Bị cáo và các chủ sở hữu không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản trên. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
02 Khẩu trang y tế thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 02 trên hiện trường được đựng trong túi niêm phong.
Lưu trữ trong hồ sơ vụ án vật chứng không còn giá trị sử dụng:
01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 020215003421 mang tên Ly A N.
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa và không có ý kiến tranh luận.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Phạm Tiến D đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để được hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 21-02-2022, bị cáo Phạm Tiến D điều khiển xe ô tô BKS 61B-015.38 (bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định) theo hướng tỉnh Vĩnh Phúc – tỉnh Tuyên Quang đến Km 49 + 750 Quốc lộ 2C thuộc địa phận thôn Tân Bình, xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo D đi không đúng phần đường quy định (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ) đã va chạm với xe mô tô BKS 23G1-011.50 do anh Ly A N điều khiển chở chị Lùng Thị M1 đi ngược chiều. Hậu quả, anh Ly A N bị thương phải đi bệnh viện điều trị, đến ngày 05-3-2022 anh N chết; chị Lùng Thị M1 bị thương nhẹ tự điều trị tại nhà; xe mô tô BKS 23G1-011.50 bị thiệt hại 1.052.500đ; xe ô tô BKS 61B-015.38 bị thiệt hại 3.275.000đ.
Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phạm Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị hại có một phần lỗi do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Tiến D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Phạm Tiến D có nghề nghiệp chính là lái xe; phạm tội với lỗi vô ý; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Tai nạn giao thông là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nhà nước và địa phương thường xuyên tuyên truyền các quy định của Luật Giao thông đường bộ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hành vi bị cáo không không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông gây tai nạn, dẫn đến hậu quả làm chết một người là nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết lên mức án phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm này nhằm hạn chế tối đa tai nạn giao thông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phạm Tiến D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, địa chỉ cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX nhận thấy không cần dùng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo” là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại anh Ly A N số tiền 197.000.000đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lùng Thị M1 số tiền 1.200.000đ. Người đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì về phần trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty TNHH vận tải Duy Đông và ông Bùi Văn Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng:
- Ngày 10-3-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 xe ô tô BKS 61B-015.38, nhãn hiệu KIA, số loại GRANBIR cho ông Bùi Văn Q là chủ sở hữu hợp pháp.
Ngày 10-6-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại: 01 Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 61B-015.38; 01 Giấy Chứng nhận kiểm định của xe ô tô BKS 61B-015.38; 01 Giấy Chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và Giấy Chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số 0593916 cho bị cáo Phạm Tiến D.
Ngày 21-7-2022, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E số 3401117340632 mang tên Phạm Tiến D cho bị cáo Phạm Tiến D.
Bị cáo và các chủ sở hữu không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản trên. Do vậy, HĐXX xem xét, giải quyết.
- Đối với chiếc xe môtô BKS 23G1-011.50 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002477 của xe mô tô BKS 23G1-011.50; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô – xe máy của xe mô tô BKS 23G1-01150.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Phạm Tiến D đã bồi thường thiệt hại toàn bộ giá trị của xe mô tô BKS 23G1-011.50, gia đình bị hại Ly A N đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại tài sản. Ngày 28-4-2022, ông Ly A V (người đại diện theo pháp luật của bị hại) có Đơn xin không nhận lại tài sản nội dung: Ông Vả không có yêu cầu nhận lại chiếc xe mô tô BKS 23G1-011.50 và cho anh Trần Duy Đ1 xe mô tô nói trên để anh Đông toàn quyền quyết định. HĐXX xét thấy, bị cáo Phạm Tiến D và anh Trần Duy Đ1 đã bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 23G1-011.50 và việc ông Vả cho anh Đông chiếc xe mô tô nói trên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay đe dọa. Ngày 09-5-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả chiếc xe mô tô BKS 23G1-011.50 cho ông Trần Duy Đ1. Ngày 21-7-2022, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe mô tô BKS 23G1-011.50 cho ông Trần Duy Đ1.
Ông Trần Duy Đ1 không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản trên. Do vậy, HĐXX xem xét, giải quyết.
- Đối với 02 khẩu trang y tế thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường được đựng trong túi niêm phong. HĐXX xét thấy, đây là vật chứng trong vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
02 Khẩu trang y tế thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 02 trên hiện trường được đựng trong túi niêm phong.
- Đối với Giấy phép lái xe mang tên Ly A N. HĐXX xét thấy, vật chứng này là tài liệu lưu trữ trong hồ sơ vụ án, bị hại anh Ly A N đã chết, Giấy phép lái xe không còn giá trị sử dụng nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ.
Lưu trữ trong hồ sơ vụ án vật chứng không còn giá trị sử dụng:
01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 020215003421 mang tên Ly A N.
Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tiến D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện theo pháp luật cho bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị can, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Tiến D 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 21-7-2022).
Giao bị cáo Phạm Tiến D về Ủy ban nhân dân thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng:
Lưu trữ trong hồ sơ vụ án vật chứng không còn giá trị sử dụng:
01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 020215003421 mang tên Ly A N do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Giang cấp ngày 13-9-2021.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
02 (hai) khẩu trang y tế thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 2 trên hiện trường được đựng trong túi niêm phong.
Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13-7-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Về án phí:
Buộc bị cáo Phạm Tiến D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Tiến D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty TNHH vận tải Duy Đông; ông Bùi Thế Quyền có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21-7-2022).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại anh Ly A N là ông Ly A V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lùng Thị M1; người đại diện theo pháp luật của chị Lùng Thị M1 là ông Lùng Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Sơn Dương; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an huyện Sơn Dương; - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang; - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - Lưu hs, hstha, vp. | T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |