vanban.org

Bản án 83/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2022. Về vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HS-ST
Ngày: 23-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trí T. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang H. Ông Nguyễn Trùng D.

- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê M - Cán bộ Toà án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức T1 - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2022/HSST-QĐ ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:

Trịnh Văn L, sinh năm 2001; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Vợ, con: chưa có; Con ông: Trịnh Văn Q và bà Phạm Thị O; Tiền sự: Không; Tiền án, tiền sự: không.

(Theo danh chỉ bản số 188 lập ngày 22/8/2022 tại Công an huyện P và lý lịch bị can phản ánh); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2022 đến nay(có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

+ Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1990; HKTT: Thôn P2, xã P1, huyện P, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000; HKTT: Thôn N, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 15/8/2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, ma túy, môi trường - Công an huyện P tổ chức nắm tình hình địa bàn xã T, huyện P, TP. Hà Nội. Khi đi trên đường tỉnh lộ 428 thuộc địa phận thôn T1, xã T thì phát hiện 03 (ba) nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện một trong ba đối tượng ném vật gì đó xuống đất rồi bỏ chạy theo hướng cống B, khi chạy được 15 mét thì người này tiếp tục dùng tay phải lấy từ túi quần phía trước bên phải vật gì đó ném về phía bên phải và thả tiền từ tay trái xuống đất thì bị lực lượng công an khống chế và yêu cầu đối tượng này nhặt vật đã ném, tiền để kiểm tra cùng với 02 đối tượng đi cùng. Tại chỗ, đối tượng bỏ chạy khai tên là Trịnh Văn L, SN: 2001, HKTT: thôn T, xã M, huyện P; 02 (hai) đối tượng còn lại lần lượt khai tên là Nguyễn Mạnh C, SN: 1990, HKTT: thôn P2, xã P1, huyện P và Nguyễn Văn H1, SN: 2000, HKTT: thôn N, xã T, huyện P. Qua kiểm tra, đã thu giữ vật chứng gồm:

* Thu giữ của Trịnh Văn L:

- Thu ở dưới đất cạnh chân L đứng có tổng số 1.000.000 đồng gồm nhiều mệnh giá khác nhau, L khai đây là tiền bán ma túy có được. Đồng thời L chỉ vị trí ném ma túy lấy từ trong túi quần phía trước bên phải khi bỏ chạy cho tổ công tác thu giữ gồm:

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 (một) túi nilông màu đỏ kích thước (5x7)cm bên trong chứa 03 túi ni long gồm:

+ 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu hồng nghi là ma túy.

+ 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng nghi là ma túy.

+ 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; (niêm phong ký hiệu M1)

- 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong có chứa 12 (mười hai) viên nén màu hồng nghi là ma túy (niêm phong ký hiệu M2). Thu tại vị trí giao dịch mua bán ma túy với C và H1.

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh dương, bên trong lắp sim số: 0961610812 của Trịnh Văn L (Khi lực lượng công an kiểm tra, L bỏ chạy và vấp ngã khiến điện thoại không còn hoạt động).

* Thu giữ của Nguyễn Mạnh C: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J1 (2016), đã qua sử dụng, trong lắp sim số 0346.898.166.

Ngày 16/8/2022, CQĐT đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Văn L tại thôn T, xã M, huyện P, Hà Nội nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 5759/KL – KTHS ngày 23/8/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

- Niêm phong ký hiệu M1 bên trong có:

+ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng (để trong túi nilông) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,128 gam;

+ 09 (chín) viên nén màu hồng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,881 gam.

- Niêm phong ký hiệu M2 bên trong có:

+ 12 viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Methemphetamine, tổng khối lượng 1,187 gam

Quá trình điều tra, bị can Trịnh Văn L và các đối tƣợng khai nhận:

Khoảng 21 giờ 30 ngày 15/8/2022, Nguyễn Mạnh C đang đi bộ tại khu vực ngã ba phố G thuộc địa phận thôn A, xã P1, huyện P thì gặp Nguyễn Văn H1. Do cả hai đều đã từng sử dụng ma túy đá nên đã thống nhất góp tiền mua ma túy đá để cùng nhau sử dụng, lúc này C lấy điện thoại lắp sim số 096161812 gọi điện vào số điện thoại 0346898166 của L thì thấy L nghe máy. C nói muốn hỏi mua của L 12 (mười hai) viên ma túy ngựa, sẵn có ma túy nên L đồng ý và bán giá 1.000.000 đồng rồi hẹn C đến khu vực cống B thuộc thôn T2, xã T1 để giao dịch mua bán ma túy rồi tắt máy; Nghe điện xong, L từ nhà đi, khi đi L mang theo 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong có chứa 12 (mười hai) viên nén màu hồng là ma túy để bán cho C. Ngoài ra còn mang theo 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 (một) túi nilông màu đỏ kích thước (5x7)cm bên trong có: 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu hồng là ma túy, 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng là ma túy, 01 (một) túi nilông kích thước khoảng (2,5x3)cm bên trong chứa 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy để túi quần phía trước bên phải với mục đích nếu có ai tiếp tục hỏi mua thì bán.

Sau khi nghe điện thoại của L và được báo giá đối với số ma túy hỏi mua C thống nhất với H1 là C sẽ bỏ ra 700.000 đồng còn H1 góp 300.000 đồng. Tiếp đó C, H1 đi nhờ xe của một người không quen biết đến trước cổng trường P- B thì xuống xe và tiếp tục đi bộ về hướng cống B. Khi C, H1 đi qua khu vực cống B một đoạn thì L gọi điện thoại lại và hỏi đi đến đâu rồi, ngay lúc này C nhìn thấy L đang đứng ở ven đường chờ nên C và H1 tiến lại vị trí L đang đứng. Tại đây C đứng đối diện L khoảng 01 mét, C lấy tiền từ trong người ra đếm được 700.000 đồng rồi quay lại nói với H1 đứng ngay phía sau của C: “đưa anh thêm 300.000 đồng để mua ma túy”. H1 lấy tiền ra đưa thêm cho C 300.000 đồng. L chứng kiến và biết được H1, C góp tiền mua ma túy. L cầm tiền 1.000.000 đồng do C đưa bằng tay trái, đồng thời chuẩn bị đưa ma túy đang cầm ở tay phải đưa cho C thì nhìn thấy lực lượng Công an đến kiểm tra. Thấy vậy, L liền thả túi ma túy (chứa 12 viên) xuống dưới đất rồi bỏ chạy về hướng cống B, khi chạy được khoảng 15 mét thì L tiếp tục ném số ma túy còn lại trên người và số tiền 1.000.000 đồng vừa nhận xuống đất thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ, thu giữ toàn bộ vật chứng là ma túy và tiền bán ma túy.

* Xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại thu giữ nhãn hiệu Samsung Galaxy J1 (2016) xác định là của Nguyễn Mạnh C sử dụng mục đích liên lạc hàng ngày, nên ngày 24/8/2022, CQĐT đã trả lại 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J1 (2016), đã qua sử dụng, trong lắp sim số 0346.898.166 cho Nguyễn Mạnh C.

* Vật chứng còn thu giữ:

- 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu M1, M2 được dán kín các mép trên có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và bị can Trịnh Văn L;

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh dương, bên trong lắp sim số: 0961610812 của Trịnh Văn L;

- Số tiền: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Bị can Trịnh Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội bán ma túy, nhưng khai nhận nghe điện thoại bán ma túy cho Nguyễn Mạnh C, lúc bán có Nguyễn Văn H1 đứng cùng với C và nhìn thấy H1 góp tiền đưa cho C mua ma túy. L chứng kiến việc H1 đưa cho C 300.000 đồng để góp được 1.000.000 đồng, đồng thời đã nhận tổng số 1.000.000 đồng từ C đưa. Lời khai nhận đó phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở khẳng định L bán ma túy cho 02 người là C và H1; Số ma túy mà L cất giấu trong người để bán, L khai nhận trước đó khoảng 01 tuần L mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7 mét, mặc quần áo màu đen và đeo khẩu trang tại khu vực Cầu L thuộc thôn T, xã M, huyện P.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 31/10/2022, VKSND huyện P truy tố Trịnh Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: xử phạt Trịnh Văn L từ 08 đến 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo;

Về vật chứng:

-Tịch thu và tiêu hủy vật chứng: 02 chiếc phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2, mặt trước mỗi phong bì có hình dấu vuông bên trong có ghi Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện P, tên đối tượng: Trịnh Văn L, sinh năm 2001; HKTT: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội. Ngày niêm phong 16/8/2022, mặt sau phong bì ký hiệu M1 có 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,128gam và 09 viên nén màu hồng bên trong 02 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,881gam; bên trong phong bì ký hiệu M2 có 12 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,187gam theo Kết luận giám định số 5759/KL-KTHS ngày 23/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội.

-Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh dương đã bị hỏng, không kiểm tra được số IMEI, màn hình điện thoại bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ, bên trong lắp sim số 0961610812.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng

Lời nói sau cùng các bị cáo Trịnh Văn L thành khẩn nhận tội, hứa sẽ sửa chữa, đề nghị Tòa khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/8/2022, Trịnh Văn L cất giấu trong người 2,068 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,128 gam ma túy loại heroine nhằm mục đích bán kiếm lời. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, Trịnh Văn L đi bộ đến thôn T2, xã T1, huyện P, thành phố Hà Nội, bán trái phép 1,187 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Văn H1 lấy 1.000.000 đồng, khi vừa nhận tiền, chưa kịp giao ma túy cho C và H1 thì bị Công an huyện P phát hiện bắt giữ quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của L đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS, phạm tội thuộc trường hợp „„Đối với 02 người trở lên‟‟. Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh dẫn đến chết người, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình mà trở về con đường lương thiện, đồng thời cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Khi lượng hình, có thể giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Đối với Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Văn H1 có hành vi góp tiền mua ma túy nhưng chưa nhận được thì bị phát hiện, cơ quan điều tra không xử lý, viện kiểm sát không xem xét là phù hợp.

Đối với người bán ma túy cho L, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nên không có cơ sở để xử lý.

. Về vật chứng:

- Vật chứng đã thu giữ là ma túy là chất độc hại nên cần tịch thu và tiêu hủy gồm: 02 chiếc phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2, mặt trước mỗi phong bì có hình dấu vuông bên trong có ghi Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện P, tên đối tượng : Trịnh Văn L, sinh năm 2001; HKTT: Thôn, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội. Ngày niêm phong 16/8/2022, mặt sau phong bì ký hiệu M1 có 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,128gam và 09 viên nén màu hồng bên trong 02 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,881gam ; bên trong phong bì ký hiệu M2 có 12 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,187gam theo Kết luận giám định số 5759/KL-KTHS ngày 23/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội.

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh dương đã thu giữ là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

- Số tiền 1.000.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự :

Phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS:

-Tịch thu và tiêu hủy: 02 chiếc phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2, mặt trước mỗi phong bì có hình dấu vuông bên trong có ghi Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện P, tên đối tượng : Trịnh Văn L, sinh năm 2001; HKTT : Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội. Ngày niêm phong 16/8/2022, mặt sau phong bì ký hiệu M1 có 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,128gam và 09 viên nén màu hồng bên trong 02 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,881gam ; bên trong phong bì ký hiệu M2 có 12 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,187gam theo Kết luận giám định số 5759/KL-KTHS ngày 23/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội.

-Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh dương đã bị hỏng, không kiểm tra được số IMEI, màn hình điện thoại bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ, bên trong lắp sim số 0961610812.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/11/2022 và Uỷ nhiệm chi ngày 08/11/2022)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ