- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Khánh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Khánh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HS-ST Ngày: 06-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoà.
Ông Phạm Tấn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều V Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2022/QĐST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Lâm Khánh N, sinh năm 1994 tại Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: ấp X Thành, xã Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nơi sinh sống: khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Lâm Văn H1 và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 16 tháng 4 năm 2022 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn T1 H, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: thôn Z, xã R, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Hộ kinh doanh Đỗ Như V - ông Đỗ Như V, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Ngọc Linh T, sinh năm 1971, nơi cư trú: tổ 3, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, vắng mặt;
2. Ông Đỗ Như T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi của bị cáo:
Lâm Khánh N và Nguyễn T1 H là bạn bè quen biết và cùng sinh sống tại phòng trọ số 1, dãy F118-48, đường D11, khu phố Cây Sắn, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 07 giờ sáng ngày 15-4-2022, Lâm Khánh N hỏi mượn Nguyễn T1 H xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 82B2-058.28 mục đích đi công việc. N nói với H cho N mượn xe cùng với giấy đăng ký xe vì sợ bị Công an bắt. H đồng ý nên đã giao xe và giấy đăng ký xe gốc cho N. Sau khi nhận xe từ H, N đi điều khiển xe đi công việc tại Thành phố Hồ Chí Minh đến 11 giờ cùng ngày thì về lại thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Do Lâm Khánh N chơi đánh bạc qua mạng và bị thua nhiều tiền nên nảy sinh ý định cầm cố xe mô tô trên của H để lấy tiền tiếp tục đánh bạc qua mạng. Thực hiện ý định trên, N đem xe mô tô biển số 82B2-058.28 đến tiệm cầm đồ T1 Đạt cầm cố cho anh cho anh Đỗ Như T1 với số tiền 25.000.000 đồng. Ngày 16-04-2022, N tiếp tục đến tiệm cầm đồ T1 Đạt cầm cố chiếc xe mô tô trên thêm 4.000.000 đồng nữa. Tổng số tiền N cầm cố chiếc xe mô tô trên là 29.000.000 đồng. Sau khi lấy được tiền, N tiêu xài cá nhân và nạp tiền 22.000.000 đồng vào tài khoản ứng dụng Sunwin để đánh bạc. Vì thua hết tiền. Lần này, N tiếp tục nạp tiền chơi game và tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 15 giờ ngày 16-4-2022, Nguyễn T1 H làm đơn trình báo đến cơ quan Công an thị trấn Lai Uyên. Công an thị trấn Lai Uyên mời Lâm Khánh N lên làm việc và cHển hồ sơ đến Công an huyện Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.
Đối với Tiệm cầm đồ T1 Đạt, khi cầm cố, N đua giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô bản chính cho T1 và nói đó là xe của mẹ ruột mình. T1 thấy xe còn mới, số khung số máy trùng khớp với giấy chứng nhận đăng kí xe nên đồng ý cầm cố cho N. T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, do vậy không có căn cứ xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đối với hành vi cầm cố tài sản không chính chủ của cửa hàng cầm đồ T1 Đạt do ông Đỗ Như V đại diện, Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông V số tiền 7.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Khánh N đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lâm Khánh N đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về các vấn đề khác của vụ án:
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 xe xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số: 82B2-058.28, số máy: JF94E0436463, số khung: RLHJF6335NZ107270; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô biển số 82B2-05828, 01 hợp đồng cầm đồ theo các Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 16-12-2022, Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật ngày 16-4-2022.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã: trả lại 01 mô tô biển số 82B2- 05828 kèm giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Ngọc Linh T theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 27-5-2022.
Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 20-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bàu Bàng kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số: 82B2-058.28, số máy: JF94E0436463, số khung: RLHJF6335NZ107270, Hội đồng thống nhất định giá là 42.300.000 đồng (bút lục số 23).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Nguyên đơn dân sự ông V yêu cầu bị cáo Lâm Khánh N bồi thường số tiền 29.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
- Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 56/CT-VKSBB ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lâm Khánh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt: đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lâm Khánh N mức án: từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Đề nghị buộc bị cáo Lâm Khánh N có trách nhiệm bồi thường cho ông Đỗ Như V số tiền là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố, trình bày luận tội của Viện Kiểm sát.
Bị cáo Lâm Khánh N nói lời sau cùng: bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xử bị cáo hình phạt nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Khánh N đã khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 15-4-2022, tại thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lâm Khánh N đã có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số: 82B2-058.28 của bị hại H và sử dụng xe mô tô trên đem cầm cố lấy tổng số tiền 29.000.000 đồng để đánh bạc qua mạng và tiêu xài cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, trị giá tài sản chiếm đoạt là 42.300.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc mượn tài sản của người khác sau đó đem đi cầm cố để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả là bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số: 82B2-058.28, trị giá tài sản chiếm đoạt là 42.300.000 đồng, bị cáo đem cầm cố xe mô tô trên với tổng số tiền 29.000.000 đồng dùng để đánh bạc là dùng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho bị hại. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lâm Khánh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết. Đối với số tiền là 29.000.000 đồng bị cáo đã nhận tại tiệm cầm đồ của nguyên đơn dân sự ông V, ông V có yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông V số tiền là 29.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo N đồng ý bồi thường cho ông V số tiền là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Ngày 27-5-2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã trả lại trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số: 82B2-058.28 cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Ngọc Linh T, là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Đỗ Như T1, T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đối với hành vi cầm cố tài sản không chính chủ của Cửa hàng cầm đồ T1 Đạt do ông Đỗ Như V làm chủ cơ sở kinh doanh, Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử phạt hành chính số 67/QĐ-XPHC ngày 10-6-2022 đối với ông Đỗ Như V số tiền 7.500.000 đồng.
Đối với hành vi đánh bạc qua ứng dụng điện tử Sunwin của bị cáo N, ngày 03-6-2022, Công an huyện Bàu Bàng đã có văn bản số 238/CV-ĐTTH gửi Phòng Cảnh sát Phòng Chống công nghệ cao và an ninh mạng Công an tỉnh Bình Dương sử dụng các biên pháp nghiệp vụ tra cứu, tiếp tục làm rõ và tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo Lâm Khánh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và khoản 2 Điều 136, các khoản 1, 2 Điều 260, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ–HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Mục 1, Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Khánh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lâm Khánh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Buộc bị cáo Lâm Khánh N có trách nhiệm bồi thường cho ông Đỗ Như V số tiền là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về án phí: bị cáo Lâm Khánh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Cổng TTĐT TANDTC (nếu có); - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng |