vanban.org

Bản án 83/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/11/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn N. Về con: Giao cháu Đỗ Ngọc Thái, sinh ngày 01/6/2009 và Đỗ Thu Hà, sinh ngày 10/10/2011 là con chung của chị H và anh N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Đỗ Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16/11/2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Vinh

Ông Bùi Thế Huệ

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diÖn VKSND tØnh Thanh Ho¸ tham gia phiªn tßa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 65/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/10/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/10/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1987, vắng mặt

Nơi ĐKHKTT: Thôn a, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ cư trú hiện tại: Số 557, đoạn 2, đường Trung Sơn, khu Trung Hòa, thành phố Tân Bắc, Đài Loan.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn N, sinh năm: 1987, vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: Thôn a, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện ở: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/7/2022, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/12/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và ở cùng bố mẹ anh N được 02 tháng thì cả hai vợ chồng chị về nhà bố mẹ đẻ của chị ở tại Thôn a, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2013, anh N đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng do nợ nần nên đi được 05 tháng quay về Việt Nam. Tháng 10/2014, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Để vợ chồng gần nhau chị tìm công việc bên Đài Loan cho anh N và đến tháng 3/2018 anh N sang Đài Loan làm việc từ đó cho đến nay. Quá trình vợ chồng chị sinh sống tại Đài Loan có ở cùng nhau nhưng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên từ tháng 5/2021 vợ chồng chị bắt đầu sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, cũng không liên lạc với nhau.

Đầu tháng 7/2022, chị trở về Việt Nam, đến tháng 8/2022 chị lại tiếp tục sang Đài Loan. Từ khi hai vợ chồng sống ly thân anh N ở đâu, làm gì chị không biết, chị chỉ biết anh N vẫn đang sống và làm việc tại Đài Loan. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn N.

2. Về con: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Ngọc Thái, sinh ngày 01/6/2009 và Đỗ Thu Hà, sinh ngày 10/10/2011. Nay anh chị ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi con.

3. Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Chị H trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Đỗ Văn N tại Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh N vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Đỗ Xuân Chinh và bà Tống Thị Toản, địa chỉ ở Thôn a, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thêm thông tin từ bố mẹ anh N.

Tại các biên bản lấy lời khai, ông Đỗ Xuân Chinh và bà Tống Thị Toản trình bày:

Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Đỗ Văn N. Chị Nguyễn Thị H là vợ anh N và là con dâu ông bà. Năm 2008, anh N và chị H kết hôn với nhau và chung sống cùng bố mẹ chị H tại thôn 4, xã Quang Trung. Sau khi kết hôn được mấy năm thì chị H đi Đài Loan. Đến năm 2018, anh N cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó cho đến nay anh N chưa về Việt Nam. Chị H có đơn xin ly hôn anh N, vợ chồng ông bà cũng biết và thông tin cho anh N, quan điểm của anh N là tùy chị H quyết định. Còn quan điểm của ông bà nếu chị H không còn tình cảm với anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N và chị H được ly hôn. Anh N và chị H có 02 con chung là Đỗ Ngọc Thái, sinh ngày 01/6/2009 và Đỗ Thu Hà, sinh ngày 10/10/2011. Các cháu đang ở với mẹ đẻ chị H. Nguyện vọng của chị H xin được trực tiếp nuôi hai cháu, ông bà cũng đồng ý. Theo ông bà, anh N và chị H không có tài sản chung và công nợ chung. Ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh N ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng ông bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh N nên đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh N.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh N; giao hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thẩm quyền của Tòa án:

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H và bị đơn là anh Đỗ Văn N đăng ký hộ khẩu tại thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang lao động tại Đài Loan. Do trong vụ án có đương sự cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh N ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh N tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông Chinh, bà Toản là bố mẹ đẻ của anh N trình bày không biết địa chỉ của anh N ở Đài Loan. Tuy anh N thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Ông Chinh, bà Toản vẫn thường xuyên liên lạc với anh N nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh N, vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Đỗ Văn N mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị H đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn từ năm 2021, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, sống ly thân từ tháng 5/2021 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, chị không có địa chỉ của anh N tại Đài Loan nên không cung cấp địa chỉ của anh N tại Đài Loan cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị H được ly hôn anh N.

. Về con: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Ngọc Thái, sinh ngày 01/6/2009 và Đỗ Thu Hà, sinh ngày 10/10/2011. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai cháu. Xét thấy nguyện vọng của chị H xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì các cháu hiện đang ở với mẹ chị H. Chị H là người gửi tiền nuôi con ăn học hàng tháng cho mẹ chị H chăm lo các cháu; năm 2022 chị H về Việt Nam để thăm nom và chăm sóc các cháu. Nguyên vọng của hai cháu xin được ở với mẹ. Anh N đi Đài Loan từ năm 2018 đến nay chưa về Việt Nam. Theo quan điểm của ông Chinh và bà Toản cũng đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi hai cháu. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, cần giao hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H nên chấp nhận.

. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh N không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh N yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

. Về án phí: Chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn N.

- Về con: Giao cháu Đỗ Ngọc Thái, sinh ngày 01/6/2009 và Đỗ Thu Hà, sinh ngày 10/10/2011 là con chung của chị H và anh N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu số 1247 ngày 12/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

3. Quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Anh Đỗ Văn N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ