- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 36 (Ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn PHÚC THỌ thµnh phè Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 106/2024/HS -ST Ngµy 09 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Oanh.
Ông Lê Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự T lý số 102/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc C, sinh năm 1981; ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá L và bà Phùng Thị L; có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2006; Tiền án: Bản án số 83/2021/HSST ngày 30/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 17 tháng tù về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 08/4/2023; tiền sự: Không; theo danh chỉ bản số 328 lập ngày 28/8/2024 của Công an huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tam giam từ ngày 22/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Anh D, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
+ Anh Đỗ Hữu H, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
+ Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu tập thể 75, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 8, xã S, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng trưa ngày 21/8/2024, sau khi đi uống Methadone tại Trung tâm y tế thị xã Sơn Tây về. Do muốn sử dụng ma túy nên Trần Ngọc C một mình điều khiển xe máy đến khu đô thị HUD (gần bến xe Sơn Tây), gặp và mua của một người phụ nữ (không quen biết) 01 gói ma túy „Đá” với giá 300.000 đồng, sau đó mang ma túy về nhà, một mình C sử dụng hết một nửa, còn một nửa tiếp tục cất trong người.
Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, Lê Anh D (là bạn bè xã hội với C) đã gọi điện cho C để hỏi mua ma túy “Đá” thì được C đồng ý bán và hẹn gặp tại đoạn ngã tư đường Hai Bà Trưng với đường liên xã Tam Thuấn - Thanh Đa (thuộc thôn Nội 1, xã Tam Thuấn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội). Trên đường đi bộ ra chỗ hẹn, D gặp anh Đỗ Hữu Hưng (sinh năm 2004, trú tại: Thôn 2, xã Thượng Cốc, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, là bạn xã hội) đang đi xe máy điện nên nhờ Hưng chở đi nhưng D không nói cho Hưng biết việc mình đang đi mua ma túy. Khi cả hai đến điểm hẹn thì thấy C điều khiển xe máy Honda Vision màu đỏ, mang BKS: 29X5-564.27 đi đến gần D, cả hai đang trao đổi mua bán ma túy thì bị Đội C sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy, Công an huyện Phúc Thọ phối hợp với Công an xã Phúc Hòa bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- Thu giữ của Trần Ngọc C:
+ 01 (một) túi nilon trong suốt, có kích thước khoảng 01x01 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng. (C khai nhận là ma túy “Đá”)
+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng SAMSUNG màu đen đã cũ, màn hinh điện thoại có vết rạn nứt;
+ 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Vision màu đỏ đã cũ, mang BKS: 29X5-564.27;
- Thu giữ của Lê Anh D:
+ 01 (một) điện thoại di động màu vàng, đen, mặt trước điện thoại có dòng chữ G800 4G VOLTE, đã cũ.
+ Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng);
- Thu giữ của Đỗ Hữu Hưng (là người chở D đi đến nơi mua ma túy): 01 (một) xe điện màu vàng đen, đã cũ, trên thân xe có in dòng chữ nước ngoài
Tại Bản kết luận giám định số 6240/KL - KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng PC09-CATP Hà Nội, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,095 gam”.
Bản cáo trạng số 101/CT- VKS ngày 15/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Ngọc C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc C đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Ngọc C đủ yếu tố cấu thành tội phạm như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52;
- 2 -
điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc C từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vụ án được khởi tố, truy tố và xét xử do các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 21/8/2024, Trần Ngọc C đến khu đô thị HUD (gần bến xe Sơn Tây), gặp và mua của một người phụ nữ (không quen biết) 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng. Sau đó C sử dụng một nửa, còn một nửa tiếp tục cất trong người. Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, Lê Anh D gọi điện cho C để hỏi mua ma túy thì C đồng ý và hẹn gặp nhau tại đoạn ngã tư đường Hai Bà Trưng với đường liên xã Tam Thuấn - Thanh Đa để giao ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,095 gam và nhận tiền. Tại điểm hẹn C chưa kịp giao ma túy cho D và nhận tiền thì bị Công an huyện Phúc Thọ bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi bán ma túy cho người khác của bị cáo Trần Ngọc C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội; làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác; Bị cáo đang có tiền án về tội phạm ma túy, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội về ma túy, chứng tỏ bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, không chịu sửa chữa mà tiếp tục tái phạm, đây là tình tiết tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt hình phạt cho phù hợp.
- 3 -
. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản. Vì vậy, sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Quá trình điều tra, Trần Ngọc C khai mua ma túy của 01 người phụ nữ không rõ tên, địa chỉ tại khu đô thị HUD thị xã Sơn Tây. Do đó, Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với Lê Anh D là người mua ma túy của C. Tuy nhiên, D chưa trả tiền, chưa cầm ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với D là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với Đỗ Hữu Hưng là người chở D nhưng không biết, không liên quan đến việc D, C mua ma túy nên không xem xét, xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Vision màu đỏ, BKS: 29X3-564.27, đã cũ thu giữ của Trần Ngọc C, qua xác minh, đây là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn T, sinh năm 1975; trú tại: KTT 75, Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là bạn của C. Anh T cho C mượn xe để di chuyển, không biết việc C dùng chiếc xe để đi bán ma túy, nên Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe trên cho anh T là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe máy điện màu vàng đen đã cũ, thân vỏ xe có in chữ nước ngoài, thu giữ của Đỗ Hữu Hưng, qua xác minh, đây là tài sản hợp pháp của Hưng, không liên quan đến việc mua bán ma túy của C và D. Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe trên cho anh Hưng là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ:
+ 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09 - CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Hoàng Hùng, Phạm Thế Anh và Trần Ngọc C, xét bên trong phong bì đựng ma túy (thu giữ của C), là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng SAMSUNG màu đen đã cũ, màn hình trước có vết rạn nứt; 01 (một) điện thoại di động kiểu màu vàng đen đã cũ, loại có phím số, mặt trước có in chữ G800 4G VOLTE, đây là phương tiện bị cáo C và D liên lạc trao đổi mua bán ma túy, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
+ Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), thu giữ của Lê Anh D, xét đây là số tiền D sẽ sử dụng vào việc mua ma túy của C, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- 4 -
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 36 (Ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam là ngày 22/8/2024.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09 - CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Hoàng Hùng, Phạm Thế Anh và Trần Ngọc C.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng SAMSUNG màu đen đã cũ, màn hình trước có vết rạn nứt và 01 (một) điện thoại di động kiểu màu vàng đen đã cũ, loại có phím số, mặt trước có in chữ G800 4G VOLTE.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 14 ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ)
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
(Theo giấy nộp tiền ngày 19/11/2024 giữa Công an huyện Phúc Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Ngọc C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Ngọc C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
N¬i nhËn:
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn Phúc Thọ; - C«ng an huyÖn Phúc Thọ; - THADS huyÖn Phúc Thọ; - BÞ c¸o, người liên quan; - L u hå s¬. - 5 - - 6 - | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa TrÇn Duy H ng |