vanban.org

Bản án 83/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T cùng phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công B số tiền 35.000.000 đồng (Ba mƣơi lăm triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T cùng phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 83/2021/HSST
Ngày 17-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Phƣớc Tân

Bà Lê Thị Hiểu

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2021/HSST ngày 19/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Trần Công B, sinh năm 1988 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 5, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Quốc tịchViệt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo hòa hảo.Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Phụ giúp gia đình; Cha: Trần Công Tạo, sinh năm 1959, sinh năm 1965; Mẹ: Thái Thị Lệ, sinh năm 1961 ; Chị, em ruột : Có 02 người, bị cáo là người nhỏ nhất; Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học đến tốt nghiệp trung học phổ thông thì nghỉ, ở nhà phụ giúp gia đình và mua bán.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/3/2021 cho đến nay.

2. Tô L, sinh năm 1958 tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm Châu Quới 2, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ 7, Khóm Mỹ Thành, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Đạo Phật. Trình độ học vấn: 7/12;Nghề nghiệp:Mua bán;Cha: Nguyễn Văn Sắc, (đã chết); Mẹ:Tô Thị Muội,(đã chết); Anh, chị, em ruột : Có 03 người, bị cáo là người thứ hai; Quá trình nhân thân:Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học đến lớp 7 thì nghỉ, sau đó đi làm thuê tại thành phố Châu Đốc và mua bán.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/3/2021 cho đến nay.

3. Lê Thị Thùy T, sinh năm 1970 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 15, khóm Mỹ Thành, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Cha: Lê Tuấn Kiệt, (đã chết); Mẹ: Trần Thị Bổ, sinh năm 1948; Anh, em ruột : Có 07 người, bị cáo là người thứ hai; chồng: Lâm Thanh Cường, sinh năm 1973; con: Có 02 đứa, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998. Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học đến lớp 6 thì nghỉ, ở nhà phụ giúp gia đình.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2021 cho đến nay.

4. Đỗ Thị Kim N , sinh năm 1990 tại An Phú, An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Phước Thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú, An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Đỗ Văn Viễn, sinh năm 1963; Mẹ: Nguyễn Thị Nói, sinh năm 1960; Anh, em ruột : Có 04 người, bị cáo là người nhỏ nhất; chồng: Đường Phi Sỉ, sinh năm 1990; con: Có 02 đứa, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019. Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học đến lớp 10 thì nghỉ, ở nhà phụ giúp gia đình và mua bán.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2021 cho đến nay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Trần Văn Bé Mười Một, sinh năm 1969; cư trú: khóm 5, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Trần Tiến Lâm, sinh năm 1986; cư trú: ấp Hà Bao 1, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Nguyễn Văn Phát, sinh năm 1977; cư trú: ấp Hà Bao 2, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Người làm chứng:

Đinh Văn Vinh; Cư trú: ấp Hà Bao 1, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2020 đến ngày 20/12/2020, Trần Công B sử dụng tài khoản zalo tên “Bang Tran” đăng ký số điện thoại 0949.100.910 để bán số đề, với hình thức số đầu, số đuôi, số lô 02 con, số đá, số lô 03 con và xỉu chủ (là giải bảy và 03 con cuối giải đặc biệt) cho nhiều người. Sau đó, B nộp phơi số đề bán được thông qua tài khoản zalo tên “Bangbang” đăng ký số điện thoại 0921.100.442 cho chủ thầu để hưởng huê hồng. Hàng ngày, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết đài Miền Nam và Miền Bắc thì B trực tiếp tính tiền ăn thua với người mua số.

Quá trình điều tra xác định: B khai nhận như sau:

- Đối với các đài Miền Nam: Hình thức số đầu (gọi là A) và số đuôi (gọi là B), B hưởng 8%, tỷ lệ 1 trúng 88; số lô hai con bán 15 nộp cho thầu 14,5, tỷ lệ 1 trúng 80; số đá bán 30 nộp cho thầu 27, tỷ lệ 1 trúng 700; số lô ba con bán 13 nộp cho thầu 11,5, tỷ lệ 1 trúng 600; hình thức xỉu chủ B hưởng 8%, tỷ lệ 1 trúng 600.

- Đối với đài Miền Bắc: Hình thức số đầu (gọi là A) và số đuôi (gọi là B), B hưởng 8%, tỷ lệ 1 trúng 88; số lô hai con bán 23 nộp cho thầu 22, tỷ lệ 1 trúng 80; số đá bán 50 nộp cho thầu 45, tỷ lệ 1 trúng 700; số lô ba con bán 23 nộp thầu 20, tỷ lệ 1 trúng 600; hình thức xỉu chủ B hưởng 8%, tỷ lệ 1 trúng 600.

- Ngày 17/9/2020, đài An Giang, B bán cho Tô L số đầu số tiền 95.000 đồng, số đuôi số tiền 250.000 đồng; bán số lô hai con số tiền 5.625.000 đồng và số đá số tiền 780.000 đồng nhưng B không nhớ tên và địa chỉ người mua; B tự mua số lô ba con số tiền 260.000 đồng. Kết quả xổ số, L trúng số đầu 18-50.000 đồng được số tiền 4.400.000 đồng. Tổng số tiền B bán được và L trúng là 11.410.000 đồng.

- Ngày 14/11/2020, đài L An, B bán cho Đỗ Thị Kim N số lô hai con số tiền 15.000.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn Phát số lô hai con số tiền 450.000 đồng; B tự mua số đầu 100.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, số lô hai con 300.000 đồng, số đá 330.000 đồng, số lô ba con 195.000 đồng và số xỉu chủ 100.000 đồng. Kết quả xổ số, N trúng được 16.000.0000 đồng. Tổng số tiền B bán và N trúng là 32.525.000 đồng.

- Ngày 11/12/2020, đài Vĩnh L, B bán cho L số đuôi 2.760.000 đồng, số lô hai con 450.000 đồng và số đá 540.000 đồng. Kết quả xổ số, L trúng được 3.040.000 đồng, tổng số tiền B bán và L trúng được 6.790.000đồng; đài Miền Bắc (Hà Nội), L mua số đầu và đuôi 300.000 đồng, số lô hai con 1.380.000 đồng, số đá 2.100.000 đồng. Kết quả xổ số, L trúng được 1.850.000 đồng, tổng số tiền B bán và L trúng là 5.630.000 đồng.

- Ngày 18/12/2020, đài Vĩnh L, B bán cho L số AB 1.590.000 đồng, số lô 825.000 đồng, số đá 510.000 đồng. Kết quả xổ số, L trúng được 2.300.000 đồng, tổng số tiền B bán và L trúng là 5.225.000 đồng; đài Miền Bắc (Hà Nội), L mua số đầu 200.000 đồng, số đuôi 50.000 đồng, số lô hai con 2.760.000 đồng, số đá 850.000 đồng. Kết quả xổ số, L trúng được 10.200.000 đồng, tổng số tiền B bán và L trúng là 14.060.000 đồng.

- Ngày 19/12/2020, (đài L An và Hà Nội) B có bán số lô, số đề cho L nhưng không nhớ số tiền cụ thể. Kết quả xổ số, L không trúng.

- Ngày 20/12/2020, đài Kiên Giang, B bán số lô hai con cho Nguyễn Văn Phát số tiền 450.000 đồng, Trần Tiến Lâm số tiền 225.000 đồng và bán cho người khác không nhớ tên, địa chỉ với số tiền 585.000 đồng; B tự mua 870.000 đồng. Tổng số tiền B bán và tự mua là 2.130.000 đồng. Kết quả xổ số, B trúng được 800.000 đồng, còn một người mua số trúng được 400.000 đồng nhưng không nhớ tên. Tổng số tiền B bán và trúng được là 3.330.000 đồng.

Đến 17 giờ cùng ngày 20/12/2020, B nhận thấy hành vi bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú tự thú. Trong thời gian bán số đề, Trần Công B hưởng lợi được 12.000.000 đồng.

Vào ngày 20/12/2020 và 26/12/2020, Tô L đến Công an thành phố Châu Đốc và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú đầu thú về hành vi mua số đề của Trần Công B bán, cụ thể như sau:

- Ngày 17/9/2020, đài An Giang, L mua số đề, số lô do B bán với số tiền 345.000 đồng và trúng được số tiền 4.400.000 đồng. Tổng số tiền mua số đề và trúng được là 4.745.000 đồng.

- Ngày 11/12/2020, đài Vĩnh L, L mua số đề, số lô do B bán với số tiền 3.750.000 đồng và trúng được 3.040.000 đồng, tổng số tiền mua số đề và trúng được là 6.790.000 đồng; đài Hà Nội mua số tiền 3.780.000 đồng và trúng được 1.850.000 đồng, tổng số tiền mua số đề và trúng được là 5.630.000 đồng.

- Ngày 18/12/2020, đài Vĩnh L, tổng số tiền L mua số do B bán và trúng được là 5.225.000 đồng; đài Hà Nội, tổng số tiền L mua và trúng được là 14.060.000 đồng.

- Ngày 19/12/2020, đài L An, L mua số đề do B bán số tiền 750.000 đồng; đài Hà Nội, mua số tiền 2.765.000 đồng. Kết quả xổ số, L không trúng.

Quá trình điều tra, L tự khai vào ngày 18/12/2020, đài Hà Nội, L mua số lô 1.610.000 đồng, số đá 850.000 đồng, số AB số tiền 250.000 đồng do Lê Thị Thùy T bán. Kết quả xổ số, L trúng được 6.200.000 đồng. Tổng số tiền L mua số đề với T và trúng được là 8.910.000 đồng. Ngày 19/12/2020, đài Hà Nội, ngoài mua số đề của B với số tiền 2.765.000 đồng, L còn mua số đề do T bán với số tiền 1.615.000 đồng, kết quả xổ số, L không trúng.

Ngoài ra, L còn khai nhận là thông qua mạng xã hội zalo, L đã mua số lô, số đề do Lâm Bích Liên, Nguyễn Thị Kim Tây, Nguyễn Thị Bé (Quyên), Nguyễn Thị Thanh Hoa, Trần Thị Bích (cùng ngụ phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc) và Thảo, ông Oanh, ông Cu, Thúy (không rõ họ, địa chỉ).

Ngày 21/12/2020, Lê Thị Thùy T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đầu thú và khai nhận: Vào ngày 18/12/2020, thông qua mạng xã hội zalo, T đã bán số đề đài Hà Nội cho L với số tiền 2.710.000 đồng và L trúng được 6.200.000 đồng, T trực tiếp ăn thua với L. Tổng số tiền L mua số đề và trúng được là 8.910.000 đồng. Ngoài ra, ngày 19/12/2020, T bán số đề đài Hà Nội cho Tô L với số tiền 1.615.000 đồng, kết quả xổ số, Tô L không trúng. Do những ngày bán số đề cho L đều bị lỗ nên T không có thu lợi.

Qua làm việc, Đỗ Thị Kim N thừa nhận vào khoảng tháng 11/2020, N có mua số đề đài Miền Nam với Trần Công B, số tiền là 15.000.000 đồng. Kết quả xổ số, N trúng được 16.000.000 đồng. N và B chưa giao nhận tiền mua và trúng số đề. N thấy do mua số đề thiếu nên không nhận tiền và từ đó về sau không tham gia nữa.

Ngày 03/3/2021, Trần Công B và Tô L bị khởi tố điều tra.

Ngày 24/6/2021, Lê Thị Thùy T và Đỗ Thị Kim N bị khởi tố điều tra.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-AP ngày 01/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Thừa nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng vừa công bố.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, khoản 1 Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự năm năm 2015,

Xử phạt tiền bị cáo Trần Công B từ 35.000.000 đồng – 45.000.000 đồng

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, khoản 1 Điều 35, Điều 58, Bộ luật hình sự năm năm 2015,

Xử phạt tiền bị cáo Tô L từ 35.000.000 đồng – 45.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 35, Điều 58, Bộ luật hình sự năm năm 2015,

Xử phạt tiền bị cáo Đỗ Thị Kim N 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng

Xử phạt tiền bị cáo Lê Thị Thùy T 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng

Đề nghị áp dụng Điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng trong vụ án.

- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 21.796.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 bên trong có sim số 0921100442 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F bên trong có sim số 0949100910 và 0945953140 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ gắn sim số 0983750709 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 (2016) vỏ màu vàng đồng, gắn sim số 0915805871 đã qua sử dụng.

- Đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Công B: 01 (một) ví da màu nâu hiệu Levi’s đã qua sử dụng; 01 (một) túi có dây đeo màu xanh ngọc, nhãn hiệu hình con cá sấu đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Tô L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng gắn sim số 0374686777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng không gắn sim đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính bảng hiệu LenovoPad PB1-750M màu trắng, không gắn sim.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

Buộc bị cáo Trần Công B nộp lại số tiền 36.854.000 đồng; Bị cáo Tô L nộp lại số tiền 17.330.000 đồng; Bị cáo Lê Thị Thùy T nộp lại số tiền 4.325.000 đồng; Bị cáo Đỗ Thị Kim N nộp lại số tiền 15.000.000 đồng; để sung vào N sách Nhà nước.

Các bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người liên quan đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét, những người tham gia tố tụng (người liên quan) vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Ngày 28/9/2021 Tại phiên tòa trên cơ sở xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quyết định số 76/2021/HSST-QĐ ngày 28/9/2021 để điều tra bổ sung các lần phạm tội chưa được truy tố theo tiết b, điểm 5.2 khoản 5, Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, tuy nhiên quá trình điều tra bổ sung thì ngày 08/10/2021 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định 355/QĐ-TANDTC bãi bỏ Nghị quyết Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã phúc cung bị cáo và chuyển hồ sơ lại cho Tòa án đưa ra xét xử.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T có hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề được thua B tiền là căn cứ khởi tố các bị cáo về tội đánh bạc.

Căn cứ pháp luật, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất vụ án:

Các bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức nhưng vì muốn làm giàu nhanh mà không phải bỏ sức lao động, đã thực hiện hành vi đánh bạc để thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, đã xâm phạm vào hoạt động quản lý hành chính và trật tự công cộng của nhà nước, gây tâm lý xấu trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến các gia đình có người thân đam mê cờ bạc dẫn đến không lo chí thú làm ăn, còn làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của một số gia đình là nguyên nhân phát sinh các tội phạm về xâm phạm tại địa phương, việc phạm tội của các bị cáo có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn các bị cáo cùng là người thực hành.

Trong tình hình dịch bệnh Covid 19, toàn dân, toàn quân ra sức phòng chống dịch bệnh, lực lượng Công an phải ngày đêm trấn áp các loại tội phạm nhằm đảm bảo an ninh trật tự và phòng chống dịch bệnh trên địa bàn, các bị cáo không những không lo làm ăn lương thiện mà còn tham gia đánh bạc gây mất an ninh trật tự, do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để các bị cáo sớm cảnh tỉnh, loại bỏ tệ nạn cờ bạc dần dần với cuộc sống của người dân.

Hơn nữa, trên địa bàn huyện An Phú gần đây xảy ra nhiều vụ án là các vụ án đánh bạc có quy mô tổ chức lớn đã bị lực lương Công an tỉnh triệt phá, do đó cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc trong lúc lượng hình để đưa ra bản án nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.

Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ:

Các Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải, các bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T và N. Riêng bị cáo B và bị cáo L nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên có thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2, Điều 51.

Cụ thể:

Đối với Trần Công B đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua B tiền, cụ thể số tiền đánh bạc: Ngày 17/9/2020 (đài An Giang), số tiền 11.410.000 đồng; ngày 14/11/2020 (đài L An), số tiền 32.525.000 đồng; ngày 11/12/2020 (đài Vĩnh L), số tiền 6.790.000 đồng và đài Hà Nội, số tiền 5.630.000 đồng; ngày 18/12/2020 (đài Vĩnh L), số tiền 5.225.000 đồng và đài Hà Nội, số tiền 14.060.000 đồng. Tổng số tiền B thu lợi là 12.000.000 đồng.

Tổng số tiền tham gia đánh bạc tính từ ngày 17/9/2020 đến ngày 20/12/2020 là 34.115.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 12.000.000 đồng, tổng số tiền buộc bị cáo phải giao nộp sung quỹ nhà nước là 46.115.000 đồng, bị cáo đã nộp 9.261.000 đồng nên buộc phải nộp thêm 36.854.000 đồng.

Đối với Tô L đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề được thua tiền, cụ thể số tiền đánh bạc: Ngày 11/12/2020 (đài Vĩnh L), số tiền 6.790.000 đồng và đài Hà Nội, số tiền 5.630.000 đồng; ngày 18/12/2020 (đài Vĩnh L), số tiền 5.225.000 đồng và đài Hà Nội, số tiền 22.970.000 đồng.

Tổng số tiền tham gia đánh bạc tính từ ngày 17/9/2020 đến ngày 18/12/2020 là 27.990.000 đồng, bị cáo đã nộp 10.660.000 đồng nên buộc phải nộp thêm 17.330.000 đồng.

Đối với Lê Thị Thùy T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua B tiền, số tiền đánh bạc 8.910.000 đồng. Buộc bị cáo nộp số tiền 4.325.000 đồng (ngày 18/12/2021) để sung quỹ nhà nước.

Đối với Đỗ Thị Kim N đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề được thua B tiền, số tiền đánh bạc 31.000.000 đồng, buộc bị cáo nộp số tiền 15.000.000 đồng ngày 14/11/2021 để sung quỹ nhà nước.

Vì vậy, B, L, T và N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Từ những nhận định như trên và xem xét nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát đề nghị phạt tiền là phù hợp, đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm i, r, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

Về vật chứng: Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Về hình phạt bổ sung: Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; Điều 47; Điều 48; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, khoản 1 Điều 35, Điều 58, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Điểm d, khoản 1, Điều 12, Điểm f, khoản 1, Điều 23, Khoản 8 Điều 26, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T cùng phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Công B số tiền 35.000.000 đồng (Ba mƣơi lăm triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Xử phạt bị cáo Tô L số tiền 35.000.000 đồng (Ba mƣơi lăm triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim N số tiền 25.000.000 đồng (Hai mƣơi lăm triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Thùy T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mƣơi lăm triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

Số tiền 21.796.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép (theo giấy ủy nhiệm chi số 92 ngày 02/8/2021);

Tịch thu sung quỹ một gói niêm phong, có chữ ký của Giáp Thah Tiển, Thiệu Văn Đoàn và đóng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang bên trong gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, số IMEI 1 và 2: 867453032418975 và 867453032418967, bên trong có sim số 0921100442 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F, số IMEI 1 và 2: 869563044730791 và 869563044730783, bên trong có sim số 0949100910 và 0945953140 đã qua sử dụng;

Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng số máy MNR02LL/A, số sêri: F2LSGC2WHG07, số IMEI: 359218072780112 bên trong có sim số 0983750709 đã qua sử dụng;

Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 (2016) vỏ màu hồng, số IMEI 1 và 2: 359929079406994 và 359930079406992 đã qua sử dụng.

Trả lại cho các bị cáo:

Trả lại cho bị cáo Trần Công B: 01 (một) ví da màu nâu hiệu Levi’s, đã qua sử dụng; 01 (một) túi có dây đeo màu xanh ngọc, nhãn hiệu hình con cá sấu, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Tô L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ số máy MPR6Z/A, gắn sim số 0374686777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng, số máy ME298LL/A số sêri: DX4MW3CWFFDQ, số IMEI: 013966003225965, đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính bảng hiệu LenovoPad PB1-750M màu trắng, đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo Trần Công B nộp số tiền 36.854.000 đồng; Bị cáo Tô L nộp số tiền 17.330.000 đồng; Bị cáo Lê Thị Thùy T nộp số tiền 4.325.000 đồng; Bị cáo Đỗ Thị Kim N nộp số tiền 15.000.000 đồng để sung vào N sách Nhà nước.

(Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú quản lý theo biên bản giao nhận ngày 03/8/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú).

Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trần Công B, Tô L, Đỗ Thị Kim N, Lê Thị Thùy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của bị cáo, của đương sự có mặt hoặc đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/11/2021). Đối với đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ