vanban.org

Bản án 83/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 120MT/PC09; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 ví giả da màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài khoảng 06 cm một đầu vót nhọn (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 6 năm 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2021/HS-ST
Ngày 21-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Bà Bùi Thúy Mở

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Đ, sinh năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C và bà T; có vợ V (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 157/QĐ-TA ngày 27 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng với thời hạn 24 tháng, Đ chấp hành xong ngày 21 tháng 4 năm 2019; nhân thân: Bản án số 127/2013/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2013 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Q xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 08 tháng 01 năm 2021 đến ngày 14 tháng 01 năm 2021 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh T, vắng mặt.

2. Anh VN, vắng mặt.

3. Anh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại khu vực đường liên thôn trước cửa nhà nghỉ Gió thuộc thôn 5, xã Thuỷ Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N kết hợp với Công an xã Thuỷ Sơn phát hiện bắt quả tang Đoàn Hồng Hoà, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng có hành vi bán trái phép chất ma túy cho M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng và T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn 5, xã Liên Khê, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của M đang mặc có 01 túi nilon kích thước 2 x 2,5cm chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và 01 điện thoại di động Nokia gắn sim số 0328.124.046; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Đoàn Hồng Hoà đang mặc số tiền 300.000 đồng gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại phòng 101 nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thu giữ: Tại mặt giường trong phòng có 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá tự chế; tại mặt bàn sát đầu giường có 01 ví giả da màu đen trong ví có 01 túi nilon màu trắng trong suốt kích thước 2x 2,5cm chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) và 01 thẻ căn cước công dân số 031084012840 mang tên Đ; tại mặt ghế trong phòng có 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài khoảng 6cm, một đầu vót nhọn, 01 điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu đen có gắn sim số 0708.351.666 và điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có gắn sim số 0795.787.897. Tại phòng 101 nhà nghỉ Gió còn có Đặng Thị Hoa, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Đền, xã Lâm Động, huyện N, thành phố Hải Phòng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Hồng Hoà tại thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản Kết luận giám định số 120/KLGĐ-MT ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu tại túi quần phía trước bên phải của M đang mặc là ma túy có khối lượng 0,02 gam là loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng thu trong ví giả da màu đen của Đ tại mặt bàn sát đầu giường trong phòng 101 nhà nghỉ Gió thuộc thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng là ma túy có khối lượng 0,18 gam là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Đ khai: Do bản thân nghiện ma túy nên Đ thường xuyên mua ma túy của người không quen biết tại khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Đ bán ma túy khoảng 01 tháng trước khi bị bắt, loại ma túy Đ bán là ma túy đá, Đ và các đối tượng mua ma túy giao dịch qua điện thoại sau đó gặp trực tiếp tại điểm hẹn để nhận tiền và giao ma túy. Nguồn gốc số ma túy Công an thu giữ tại phòng 101 nhà nghỉ Gió là của Đ mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng với giá 500.000 đồng vào chiều ngày 07 tháng 01 năm 2021, mục đích để bán cho người khác. Đ đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người cụ thể như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 2020 Đoàn Hồng Hoà bán một túi ma tuý đá với giá 200.000 đồng cho M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng và VN, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 6, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng tại khu vực cổng nhà Đoàn Hồng Hoà ở thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04 tháng 01 năm 2021 Đ bán một túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng cho M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng và VN, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 6, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng tại khu vực gần Bệnh viện Đa khoa huyện Thuỷ Nguyên ở xã Thuỷ Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng.

Khoảng 12 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2021 Đ bán một túi ma tuý đá với giá 200.000 đồng cho M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng và VN, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 6, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng tại khu vực cổng nhà Đoàn Hồng Hoà ở thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng.

Khoảng 18 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2021 Đoàn Hồng Hoà bán một túi ma tuý đá với giá 200.000 đồng cho M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng và B, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn 4, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng tại khu vực trước nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thuỷ Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08 tháng 01 năm 2021 Đoàn Hồng Hoà bán một túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng cho M, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn 5, xã L, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng và T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn 5, xã Liên Khê, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thuỷ Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng. Khi vừa mua bán ma túy xong thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, M, VN, B và T khai: Ngày 30 tháng 12 năm 2020 M và VN góp tiền mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng của Đ tại khu vực cổng nhà Đ ở thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng để sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04 tháng 01 năm 2021 M và VN góp tiền mua 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng của Đ tại khu vực gần Bệnh viện Đa khoa huyện N để sử dụng. Khoảng 12 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2021 M và VN góp tiền mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng của Đ tại khu vực cổng nhà Đ ở thôn 1, xã Hoàng Động, huyện N, thành phố Hải Phòng để sử dụng. Khoảng 18 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2021 M và B góp tiền mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng của Đ tại khu vực trước nhà nghỉ Gió tại thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08 tháng 01 năm 2021 M và T góp tiền mua 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng của Đ tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Đặng Thị Hoa khai: Đặng Thị Hoa là bạn gái của Đoàn Hồng Hòà. Ngày 08 tháng 01 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khám xét khẩn cấp phòng 101 nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng thì Đặng Thị Hoa đang ở trong phòng 101 nhà nghỉ Gió tại thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng nhưng chị Đặng Thị Hoa không biết và không tham gia cùng với Đ cất giấu và bán trái phép chất ma túy cho người khác.

Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội đối với bị cáo Đ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo Đ theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 09 năm đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 08 tháng 01 năm 2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 120MT/PC09, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 ví giả da màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài khoảng 06 cm một đầu vót nhọn. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen và 01 điện thoại di động Nokia. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng thu của Đ. Truy thu số tiền 900.000 đồng của Đ do bán ma túy mà có để sung vào ngân sách nhà nước. Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N và Kiểm sát viên thu thập và tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định số 120/KLGĐ-MT ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét và công bố công khai tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Do nghiện ma túy nên bị cáo Đ đã thực hiện hành vi mua ma túy để sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Trong vụ án này xác định bị cáo Đ đã thực hiện hành vi cất giấu 0,18 gam ma túy là loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép chất ma túy cho người khác và đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho M, VN, B và T vào các ngày 30 tháng 12 năm 2020, ngày 04 tháng 01 năm 2021, ngày 07 tháng 01 năm 2021 và ngày 08 tháng 01 năm 2021. Do đó bị cáo Đ đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên”, “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố và đề nghị kết tội bị cáo Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng điều luật.

Xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và quyết định hình phạt:

Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhưng xét hành vi phạm tội của bị cáo Đ là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội. Năm 2013 bị cáo Đ đã bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đã được xóa án tích không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và năm 2016 Đ bị Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 21 tháng 4 năm 2019 Đ mới chấp hành xong nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử xét xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo Đ là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xác định số ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 120MT/PC09 là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 ví giả da màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài khoảng 06 cm một đầu vót nhọn là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có gắn sim số 0795.787.897 thu của Đ và 01 điện thoại di động Nokia gắn sim số 0328.124.046 thu của M xác định là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 300.000 đồng thu của bị cáo Đ là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Truy thu số tiền 900.000 đồng của Đ do bán ma túy ngày 30 tháng 12 năm 2020, ngày 04 tháng 01 năm 2021 và ngày 07 tháng 01 năm 2021 mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong vụ án này M và T là những người mua ma túy của Đ để sử dụng cho bản thân; nhân thân của M và T không có tiền án, tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy thu giữ không đủ để truy cứu trách nhiệm hình nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. B và VN có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật. Đối tượng bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lý lịch nên không có cơ sở để điều tra. Đối với điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu đen có gắn sim số 0708.351.666 và 01 thẻ căn cước công dân số 031084012840 mang tên Đ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ khi khám xét phòng 101 nhà nghỉ Gió ở thôn 5, xã Thủy Sơn, huyện N, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra xác định điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu đen thuộc sở hữu của chị Đặng Thị Hoa, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Đền, xã Lâm Động, huyện N, thành phố Hải Phòng và 01 thẻ căn cước công dân số 031084012840 mang tên Đ không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại chiếc điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu đen cho chị Đặng Thị Hoa và 01 thẻ căn cước công dân số 031084012840 mang tên Đ cho ông Đoàn Văn Cấp (là bố đẻ của Đ).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đ 09 (chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 08 tháng 01 năm 2021).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 120MT/PC09; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 ví giả da màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài khoảng 06 cm một đầu vót nhọn (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, thành phố Hải Phòng).

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có gắn sim số 0795.787.897 và 01 điện thoại di động Nokia gắn sim số 0328.124.046 (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, thành phố Hải Phòng).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng thu của Đ theo biên lai thu tiền số 0001036 ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, thành phố Hải Phòng.

- Truy thu số tiền 900.000 đồng của Đ để sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ