vanban.org

Bản án 83/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Trần Ngọc P.

Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc K sinh ngày 07 tháng 11 năm 2009 cho chị Nguyễn Thị Thảo N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm thời chị Nguyễn Thị Thảo N không yêu cầu anh Trần Ngọc P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Trần Ngọc P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân gia và gia đình; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29-6-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

2. Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc: Không tham gia.

Vào ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp VK, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc P, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp VK, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

(Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày: Trên sơ sở tự nguyện, chị và anh Trần Ngọc P tự sống chung và đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Cuộc sống chung không hạnh phúc, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh Trần Ngọc P hay có những lời lẽ xúc phạm đến chị. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể khắc phục mâu thuẫn để tiếp tục sống chung nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Ngọc P.

Về con chung: Chị và anh Trần Ngọc P có 01 con chung là cháu Trần Ngọc K sinh ngày 07 tháng 11 năm 2009. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Trần Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tãi bản tự khai bi đơn anh Trần Ngọc P trình bày: Anh không có trình bày gì nữa và xin Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Thảo N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trần Ngọc P và yêu cầu nuôi dưỡng con chung, anh Trần Ngọc P hiện đang cư trú tại ấp VK, xã XH, huyện Xuân Lộc nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thảo N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trần Ngọc P nên chị Nguyễn Thị Thảo N là nguyên đơn, anh Trần Ngọc P là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P có đơn xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P cung cấp tài liệu chứng cứ là các bản tự khai, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc không tham gia phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị Nguyễn Thị Thảo N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh Trần Ngọc P hay chửi bới xúc phạm đến chị và gia đình chị. Anh Trần Ngọc P có đến Tòa án làm việc và giao nộp bản tự khai ghi ý kiến của anh là không trình bày gì nữa. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P đều xin vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải để anh chị khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P cũng vắng mặt, chứng tỏ anh chị không có mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó đã có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Thảo N va anh Trần Ngọc P đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Trần Ngọc P là phù hợp.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P có 01 người con là cháu Trần Ngọc K sinh ngày 07 tháng 11 năm 2009. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Thảo N có thu nhập ổn định, cháu Trần Ngọc K có nguyện vọng được chung sống với chị Nguyễn Thị Thảo N. Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Ngọc P không có nêu ý kiến về việc nuôi con chung khi ly hôn. Vì vậy, nên giao con chung cho chị Nguyễn Thị Thảo N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tạm thời chị Nguyễn Thị Thảo N không yêu cầu anh Trần Ngọc P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo N trình bày không có, anh Trần Ngọc P không trình bày nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân gia và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với anh Trần Ngọc P.

- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc K sinh ngày 07 tháng 11 năm 2009 cho chị Nguyễn Thị Thảo N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Tạm thời chị Nguyễn Thị Thảo N không yêu cầu anh Trần Ngọc P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh Trần Ngọc P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004951ngày 12 tháng 4 năm 2021của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, chị Nguyễn Thị Thảo N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Thảo N và anh Trần Ngọc P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ