- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc A -Lương Nhật T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc A, cho chị Nguyễn Thị Ngọc A ly hôn với anh Lương Nhật T
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2021/HNGĐ - ST Ngày: 15/10/2021 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Thanh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Tú Phương
2. Ông Trần Văn Phước
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử công khai vụ án thụ lý số 74/2021/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2021/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã VT, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu
- Bị đơn: Anh Lương Nhật T, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã VT, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu
(Chị Nguyễn Thị Ngọc A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lương Nhật T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án là chị Nguyễn Thị Ngọc A trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Lương Nhật T kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VT và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/7/2017. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ban đầu chung sống với nhau hạnh phúc, thời gian gần đây bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân gần 01 năm nay. Do nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Quá trình sống chung giữa chị A và anh T có với nhau 01 người con chung là Lương Phúc Thịnh, sinh ngày 11/11/2017. Hiện nay cháu Thịnh đang sống với chị A, khi ly hôn chị A yêu cầu được nuôi cháu Thịnh, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lương Nhật T đã được Tòa án nhân dân huyện PL tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T vẫn vắng mặt, không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên vẫn còn vi phạm tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự về việc gửi quyết định đưa vụ án ra xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; đối với nguyên đơn đã thực hiện T đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng , bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Lương Nhật T có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa chị A và anh T là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng không hạnh phúc, đã sống ly thân từ tháng 10/2020 đến nay. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, cho chị A ly hôn với anh T;
+ Về con chung: Giao cháu Lương Phúc Th, sinh ngày 11/11/2017 cho chị A chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T được quyền thăm mon con chung không ai được cản trở.
+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Lương Nhật T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 745.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
+ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu
+ Về án phí: Chị A, anh T phải chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về Thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nuôi con với anh Lương Nhật T là tranh chấp về hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Bạc Liêu. Anh Lương Nhật T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Nguyễn Thị Ngọc A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị A, anh T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Lương Nhật T sống chung từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị A, anh T là hợp pháp, tuy nhiên trong quá trình sống chung chị Avà anh T xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 10/2020 đến nay. Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình, sống chung với nhau nhưng chị A và anh T đã sống ly thân gần 01 năm nay. Từ khi sống ly thân đến nay, hai bên không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Lương Nhật T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị A ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Lương Phúc Th, sinh ngày 11/11/2017. Chị A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thịnh.
Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi sống ly thân đến nay cháu Lương Phúc Th đều do chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Để tạo điều kiện cho cháu Thịnh có cuộc sống ổn định và phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần nên tiếp tục giao cháu Thịnh cho chị A trực tiếp nuôi con, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu anh Lương Nhật T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Xét: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Lương Nhật T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình “cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Chị Nguyễn Thị Ngọc A đề nghị Tòa án buộc anh Lương Nhật T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật và không đề nghị mức cấp dưỡng là bao nhiêu mỗi tháng. Quá trình giải quyết vụ án chị A không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh mức thu nhập của anh T hiện nay là bao nhiêu. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định hiện nay buộc anh Lương Nhật T phải cấp dưỡng nuôi con chung là 745.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng. Anh Lương Nhật T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82, Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc A, cho chị Nguyễn Thị Ngọc A ly hôn với anh Lương Nhật T
- Về con chung: Giao cháu Lương Phúc Th, sinh ngày 11/11/2017 cho chị Nguyễn Thị Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Lương Nhật T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lương Phúc Thịnh mỗi tháng 745.000 đồng. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị A đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0004753 ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Cục thi hành án dân sự huyện PL được chuyển thu án phí. Anh Lương Nhật T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện PL; - THADS huyện PL; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Đương sự (để thi hành); - UBND xã VT; - Lưu: Hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thanh Liêm |