vanban.org

Bản án 83/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/11/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc ông Nguyễn Đức Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng); tiền lãi trong hạn là 6.166.667 đồng (Sáu triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng); tiền lãi quá hạn là 86.683.562 đồng (Tám mươi sáu triệu sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N - Nguyễn Đức Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2021/DS-ST
Ngày 11-11-2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lan;

2. Ông Phan Đình Xiềng;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 679/2021/QĐST-DS ngày 21/10/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ: Đường L, phường Th, Quận B, Tp. Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn S. Chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh huyện G Đông Gia Lai. Địa chỉ: Đường H, thị trấn I, huyện G, tỉnh Gia Lai (Theo Văn bản ủy quyền số 438/QĐ-NHNN-PC ngày 10 tháng 11 năm 2021). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Q.

Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Võ Văn S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng số 410116/2016/HĐTD ngày 23/01/2016, Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G Gia Lai Phòng giao dịch I (Ngân hàng) đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đức Q vay số tiền 120.000.000 đồng, mục đích vay để chăm sóc cà phê và mua sắm vật dụng sinh hoạt. Các bên thỏa thuận áp dụng lãi suất cho vay trong hạn là 10%/năm, phương thức trả lãi 06 tháng/lần (có thỏa thuận trả lãi hàng tháng); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 23/01/2016.

Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của hợp đồng tín dụng, Ngân hàng và ông Nguyễn Đức Q đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 412016/HĐTC ngày 21/01/2016. Theo đó, ông Q đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản, bao gồm:

Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất của Thửa đất số 76 thuộc tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 697050 ngày 23/6/1997 cho ông Nguyễn Đức Q.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Đức Q chỉ trả được tiền lãi tính đến ngày 22/7/2016 với số tiền 6.066.666 đồng. Ông Nguyễn Đức Q không tiếp tục trả lãi và nợ gốc khi đến hạn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Đức Q phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 120.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 6.166.667 đồng; nợ lãi quá hạn là 86.683.562 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh cho đến ngày ông Nguyễn Đức Q trả hết nợ cho ngân hàng. Trường hợp ông Nguyễn Đức Q không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

2. Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đồng thời không có Văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

3. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do nên bị đơn chưa tuân thủ các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

- Về giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện: Tại điểm b, Mục 1, Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 410116/2016/HĐTD ngày 23/01/2016, bên cho vay là Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G Gia Lai (Bên A) và bên vay là ông Nguyễn Đức Q (Bên B) có thỏa thuận như sau: Bên A có quyền“Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật khi phát hiện bên B cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng”. Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi và nợ gốc cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả nợ vay là phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, có căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện do phát sinh tranh chấp với bị đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nên thuộc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Khi giao kết hợp đồng, bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn T, xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp như: Hợp đồng tín dụng số 410116/2016/HĐTD ngày 23/01/2016;“Theo dõi tiền phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ” của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G Gia Lai, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, ông Nguyễn Đức Q có vay của Ngân hàng số tiền 120.000.000 đồng, đã được giải ngân vào ngày 23/01/2016. Ông Q thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng định kỳ 06 tháng/lần, ngày 08 của tháng thứ 6 hoặc trả lãi hàng tháng và trả nợ gốc vào ngày 23/01/2017. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, ông Q chỉ trả được tiền lãi đến ngày 22/7/2016, không tiếp tục trả lãi và nợ gốc khi đến hạn nên đã vi phạm thời hạn trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức Q phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc 120.000.000 đồng; lãi trong hạn là 6.166.667 đồng và lãi quá hạn là 86.683.562 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 275, 280 và 351 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do đó, ông Nguyễn Đức Q phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 212.850.229 đồng.

Ngoài ra, căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm thì bị đơn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả lãi chậm trả cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi chậm trả kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả xong nợ gốc là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp:

Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 412016/HĐTC ngày 21/01/2016, ông Nguyễn Đức Q đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản thế chấp, bao gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Thửa đất số 46, tờ bản đồ số 58 tại: xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 697050 của Uỷ ban nhân dân huyện Ia Grai cấp ngày 23/6/1997 cho ông Nguyễn Đức Q.

Xét khi giao kết hợp thế chấp, các bên đều đảm bảo điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch; ý chí đều tự nguyện, không bị ép buộc; mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp nhằm đảo bảo thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng nên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng được chứng thực và đăng ký thế chấp tại Cơ quan có thẩm quyền đúng quy định của pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực. Kết quả xem xét, thẩm định xác định, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, không phát sinh tranh chấp với người khác. Do đó, nguyên đơn yêu cầu trường hợp ông Nguyễn Đức Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 299, khoản 1 Điều 319, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp là 3.000.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 10.642.511 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 275, 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 463, 465, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 94 và 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

1. Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc ông Nguyễn Đức Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng); tiền lãi trong hạn là 6.166.667 đồng (Sáu triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng); tiền lãi quá hạn là 86.683.562 đồng (Tám mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn năm trăm sáu mươi hai đồng). Tổng cộng, ông Nguyễn Đức Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền 212.850.229 đồng (Hai trăm mười hai triệu tám trăm năm ngàn hai trăm hai mươi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Nguyễn Đức Q không trả được các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, các tài sản được quyền yêu cầu xử lý, gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Thửa đất số 46, tờ bản đồ số 58 tại: xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai, được Uỷ ban nhân dân huyện Ia Grai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 697050 ngày 23/6/1997 cho ông Nguyễn Đức Q.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Đức Q phải trả lại cho Ngân hàng N số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.642.511 đồng (Mười triệu sáu trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm mười một đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.125.833 đồng (Năm triệu một trăm hai mươi lăm ngàn tám trăm ba mươi ba đồng). Theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0012009, ngày 06/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (11/11/2021). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Về thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ