- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Tr - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2020/HSST Ngày 21/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC GIANG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu
Ông Đào Xuân Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị Tr, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: không biết; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị K, sinh năm 1960; Chồng: Đỗ Văn H, sinh năm 1991, nơi cư trú thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giam từ ngày 24/6/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Tô Văn Th, sinh năm 1981. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Â, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 11 giờ ngày 24/6/2020, khi Đỗ Thị Tr, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã L, huyện T; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố L, thị trấn Nh, huyện T đang ở nhà trọ thì có người bạn tên là H, sinh năm 1968, ở thị trấn Cao Thượng, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Tr không biết địa chỉ cụ thể của H) đã sử dụng số điện thoại 0921.839.902 gọi đến số điện thoại 0367.316.548 của Tr và rủ Tr đến quán Cafe - Karaoke Ng của gia đình chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố L, huyện T, tỉnh Bắc Giang để hát Karaoke nhưng Tr không đi. Khoảng gần 13 giờ cùng ngày, thì H lại sử dụng số điện thoại trên gọi vào số điện thoại của Tr tiếp tục rủ Tr đến quán Cafe- Karaoke Ng, đồng thời H nhờ Tr lấy giúp 04 (bốn) gói ma túy Heroine thì được Tr đồng ý. Sau đó, Tr dùng điện thoại của Tr gọi đến số điện thoại 0362.422.467 của Phạm Trung D, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T, tỉnh Bắc Giang do Tr quen biết từ trước. Qua điện thoại, Tr nói với D “Có người muốn mua bốn gói hàng trắng”, nếu D còn thì mang xuống phòng trọ của Tr để Tr cầm ra cho người đàn ông kia thì D đồng ý. Khoảng 30 phút sau, D đi xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu sơn đen biển kiểm soát 98M7 - 6210 đến phòng trọ của Tr tại tổ dân phố L, thị trấn Nh, huyện T, D đưa cho Tr 01 (một) gói giấy màu trắng, Tr biết bên trong đựng ma túy Heroine nên cầm lấy gói ma túy rồi một mình điều khiển xe mô tô của D đến quán Cafe - Karaoke Ng. Khoảng 13 giờ 10 phút thì Tr đến quán cafe, Tr vào phòng số 01 tầng một thì thấy H ở bên trong phòng, Tr đặt gói lên trên mặt bàn rồi nói với H “của anh đây”, H cầm lấy gói ma túy rồi hỏi Tr “bao nhiêu tiền” thì Tr trả lời “anh lấy bao nhiêu thì trả bằng đấy”, H mở gói ma túy ra kiểm tra thì thấy bên trong có 04 (bốn) gói giấy bạc mặt ngoài màu vàng, nên H lấy số tiền 400.000 đồng (loại tiền có mệnh giá 100.000đồng) từ trong túi ra đưa cho Tr. Khi H đang đưa tiền cho Tr thì Tô Văn Th, sinh năm 1981, trú tại thôn Â, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang là bạn của H đi vào, Tr cầm tiền H đưa rồi đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và ngồi uống nước, còn H bỏ 01 (một) gói ma túy ra cùng với Tô Văn Th sử dụng. Khi H và Th đang sử dụng trái phép chât ma túy thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Nh kiểm tra bắt quả tang Tr, H, Th có hành mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:
- 01 gói giấy màu trắng, một mặt có chữ Việt Nam Airline, bên trong có chứa 03 gói giấy bạc đều có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy Heroine; 01 mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, trên một mặt có bám dính chất màu đen. Tất cả được thu giữ trên mặt bàn trong phòng số 01 của quán Cafe Ng, được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu “QT”.
Tr tự nguyện lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra số tiền 400.000 đồng giao nộp cho tổ công tác.
- Thu giữ của Đỗ Thị Tr điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI1: 356431084818373/01, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu sơn đen biển kiểm soát 98M7-6210, số khung: RLHHC 097Y896047; số máy HC09E-6718543, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.
- Thu giữ của Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Neoson màu vàng, có số IMEI1: 355178141394093, điện thoại đã qua sử dụng.
Cùng ngày 24/6/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị Tr và Phạm Trung D. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Ngày 24/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang đã trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định vật chứng được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT” có phải là chất ma túy không? Loại chất ma túy gì? Có khối lượng bao nhiêu?
Tại kết luận giám định số 771/KL-KTHS ngày 25/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận:
“Trong 01 (một) phòng bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được gói trong 01 (một) gói giấy màu trắng, trên một mặt có chữ “Vietnam Airlines” là ma túy, có khối lượng 0,026 gam, loại Heroine.
- Chất màu đen bám dính trên 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,010 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra bị cáo Đỗ Thị Tr đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 24 tháng 11 năm 2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của mình, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Thị Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; Bộ luật Hình sự đối với Đỗ Thị Tr:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Tr từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Tr tự bào chữa: bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang, truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để cải tạo và sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền. Về trình tự, thủ tục: Quá trình điều tra, tại bản kết luận số 94 ngày18/11/2020 và bản cáo trạng số 86 ngày 24/11/2020 đã tách vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Neoson màu vàng, số IMEI1: 355178141394093, thu giữ của Nguyễn Văn H và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đen có biển kiểm soát 98M7-6210 số khung: RLHHC 097Y896047; số máy HC09E- 678543. Sau khi tách các vật chứng trên thì cơ quan điều tra cũng như Viện kiểm sát không thông báo cho những người có quyền sở hữu đối với các tài sản trên để họ thực hiện quyền của mình là thiếu sót, nhưng không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. Tuy nhiên cần kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T thực hiện việc thông báo về việc tách vật chứng cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền của mình.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án và họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Điều 292, ĐIều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Đối với anh Phạm Trung D và anh Nguyễn Văn H là người bị thu giữ tài sản trong quá trình điều tra nhưng các tài sản đó đã được tách ra để giải quyết sau. Do đó Hội đồng xét xử không đưa anh D, anh H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về tội danh, ngày 24/6/2020, tại phòng 01 tầng một của quán Cafe - Karaoke Ng do chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố L, thị trấn Nh, huyện T là chủ; Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang Đỗ Thị Tr có hành vi bán trái phép 04 (bốn) gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng mà Tr chỉ tiết tên là H. Sau đó H và Tô Văn Th đã sử dụng còn lại 0,036 gam ma túy Heroine. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, một mặt đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý về các loại dược phẩm có tính chất gây nghiện của Nhà nước, mặt khác từ hành vi này của tội phạm, đã dẫn đến làm xói mòn đạo đức xã hội, phẩm chất và nhân cách của con người và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong đời sống, gia đình và xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản, thu nhập nên cần miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với Phạm Trung D, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện T mà bị cáo Tr khai ngày 24/6/2020 D là người đưa gói ma túy và cho mượn xe mô tô để Tr đem ma túy đi bán, nhưng qua đấu tranh D không thừa nhận việc đưa gói ma túy cho Tr bán hộ và khẳng định chỉ đến phòng trọ Tr và cho Tr mượn xe. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập D làm rõ và đối chất giữa Tr với D, nhưng D không chấp hành. Xác minh tại địa phương, D không có mặt tại gia đình và địa phương nên không đối chất được giữa Tr và D để làm rõ nội dung Tr đã khai ở trên. Ngày 18/11/2020, Cơ của cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách các tài liệu có liên quan đến Phạm Trung D ra khỏi hồ sơ vụ án, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người mua ma túy của Đỗ Thị Tr ngày 24/6/2020 tự khai là Nguyễn Văn H, sinh năm 1968, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, không có đối tượng nào tên là Nguyễn Văn H có địa chỉ trên, nên không biết H là ai, ở đâu. Ngày 18/11/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách các tài liệu có liên quan đến Nguyễn Văn H ra khỏi hồ sơ vụ án khi có căn cứ xử lý sau.
Đối với Tô Văn Th, sinh năm 1981, trú tại thôn Â, xã Q, huyện T được H rủ đến quán Cafe - Karaoke Ng để hát, Th không biết việc H mua bán ma túy với Tr nên không cấu thành tội phạm. Tô Văn Th khai nhận được H cho sử dụng trái phép ma túy tại phòng 01 tầng một. Ngày 18/11/2020, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn Th về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố L, thị trấn Nh, huyện T là chủ quán Cafe - Karaoke Ng không biết các đối tượng thuê phòng để mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 01 tầng một, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về vật chứng: Đối với Về 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Neoson màu vàng, có số IMEI1: 355178141394093, thu giữ của Nguyễn Văn H và đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu sơn đen có biển kiểm soát 98M7-6210, số khung: RLHHC 097Y896047; số máy HC09E-6718543. Ngày 18/11/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách các vật chứng ra khỏi hồ sơ vụ án khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ khi bắt quả tang là tiền Tr bán ma túy cho Nguyễn Văn H có được và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI1: 356431084818373/01, bị cáo Đỗ Thị Tr sử dụng liên lạc trong việc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đối với 01 phong bì thư có ký hiệu “QT”, vỏ bao gói mẫu sau giám định, phong bì thư được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định là vật cấm lưu hành lên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331, 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Tr 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/6/2020. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 400.000 (một trăm nghìn) đồng theo ủy nhiệm chi lập ngày 25/11/2020; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI1: 356431084818373/01.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có ký hiệu “QT”, vỏ bao gói mẫu sau giám định, phong bì thư được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định.
Về án phí:
Bị cáo Đỗ Thị Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND, THADS, Công an huyện; - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Tư Duy |