vanban.org

Bản án 83/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2020. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2020/HS-ST
Ngày 19 – 5 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến.

Ông Võ Sỹ Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 279/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1989 tại Cà Mau; nơi thường trú: khóm N, phường M, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H (đã chết) và bà Trần Kim H; vợ Trương Tú A, con: 02 người; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, không có án tích; bị tạm giữ từ ngày 02/3/2020 (đầu thú) đến ngày 05/3/2020 thì bị bắt, tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13 giờ 30 phút ngày 14/02/2019, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau bắt quả tang Hà Giang Phương đang thực hiện hành vi mua bán trái phép cho Nguyễn Văn Sang tại nhà của Phương thuộc ấp Tân Trung, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau nên lập biên bản bắt người phạm tội quản tang. Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ trong túi quần Jean bên phải phía trước của Sang 01 bịch nilong bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy);

- Thu giử trong cốc nhựa màu hồng từ cửa chính nhìn vào phía bên trái trong nhà của Phương 01 bịch nilon có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

Tại thời điểm bắt quả tang, lực lượng Công an phát hiện tại nhà Phương còn có Nguyễn Hoàng L đang ngủ trong phòng nên tiến hành mời L làm việc và tạm giữ các đồ vật gồm: 01 bình nhựa tự chế dùng để sử dụng ma túy, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 quẹt ga, tiền Việt Nam là 300.000đ của Phương, 01 cốc nhựa màu hồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của L và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Phương.

Tại Kết luận giám định số: 39-GĐH/PC09 ngày 21/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nilon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.24/2019 thu giữ của Nguyễn Văn Sang vào ngày 14/02/2019 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0247 gam, loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nilon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.25/2019 thu giữ của Hà Giang Phương vào ngày 14/02/2019 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2997 gam, loại Methamphetamine.

Không hoàn lại mẫu ký hiệu M.24/2019 sau khi giám định, hết mẫu. Hoàn lại 0,2021 gam mẫu ký hiệu M.25/2019 có niêm phong sau khi trích giám định và không lưu.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 10 giờ ngày 14/02/2019, Phương điện thoại kêu L mua 500.000đ ma túy đá bán lại cho Nguyễn Văn Sang thì L đồng ý và có nói với Phương “nếu Sang không lấy thì tìm ai chia lại để lấy vốn”. Sau đó, L đi đến chùa cô hồn thuộc khóm N, phường M gặp một đứa bé hỏi mua ma túy thì đứa bé hỏi L lấy bao nhiêu thì L trả lời 400.000đ, một lúc sau có một nam thanh niên đeo khẩu trang (không xác định được tuổi, họ tên) chạy xe ngang ném bịch ma túy xuống chân L và kêu L nhặt, L nhặt lên và đưa 400.000đ cho người nam đó rồi đi xe Honda khách vào nhà Phương, L đưa bịch ma túy cho Phương và kêu Phương lấy ra một ít để sử dụng còn lại thì chia cho Sang. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong, L vào phòng của Phương nghỉ còn Phương nằm ở ngoài võng đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, Sang đến cùng sử dụng chung ma túy với Phương và khi ra về, Sang kêu Phương chia lại 200.000đ ma túy, Phương lấy ma túy chiết ra một ít bỏ vào bịt nilon cho Sang, số còn lại bỏ vào cốc nhựa màu hồng cất giữ. Sau khi Phương đưa ma túy, Sang đưa cho Phương 200.000đ tiền chia ma túy và trả 100.000đ tiền ma túy mà Phương cho sử dụng chung. Khi có ma túy, Sang bỏ vào túi quần Jean bên phải, phía trước đang mặc trên người và bước ra về thì bị Công an bắt quả tang.

Ngày 22/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phương và L. Đối với Phương đã bị bắt và bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử ngày 21/8/2019, riêng L bỏ trốn đến ngày 02/3/2020, L ra đầu thú.

Tại Cáo trạng số: 106/CT-VKS ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; Về vật chứng, tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của L còn các vật chứng khác đã được xử lý xong nên không đề cập xem xét.

- Bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Với hành vi đã thực hiện và lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hoàng L tại phiên toà cho thấy vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/02/2019, bị cáo cùng với Hà Giang Phương đã bán trái phép chất ma tuý là Methamphetamin có tổng trọng lượng 0,0247 gam cho Nguyễn Văn Sang tại nhà Phương thuộc ấp Tân Trung, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của Phương cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và kết luận giám định.

Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và chính sức khoẻ của người sử dụng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện được Nhà nước nghiêm cấm mua bán trái phép dưới mọi hình thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội bởi chính tác hại của ma tuý gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm hành vi vi phạm của bị cáo. Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặc dù, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo lẫn trốn và bị truy nã nhưng trong thời gian này, bị cáo đã thấy được vi phạm của mình nên đã ra Cơ quan Công an đầu thú đều đó cho thấy bị cáo còn có khả năng sửa đổi bản thân để trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội nên áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Với đánh giá nêu tại các đoạn [1], [2] và [3] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, trong vụ án này Phương là người khởi xướng việc mua ma túy về sử dụng cùng bị cáo và trực tiếp bán lại cho Sang, việc bán lại cho Sang chỉ nhằm mục đích lấy tiền để mua tiếp ma túy về sử dụng, bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn, giúp sức cho Phương, hiện hành vi của Phương đã được xử lý tại Bản án số: 149/2019/HS-ST ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên xử phạt bị cáo bằng với mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải như bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, là 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị cáo, hiện điện thoại này đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng minh được việc bị cáo dùng chiếc điện thoại trên vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Riêng các vật chứng khác đã được xử lý tại Bản án số: 149/2019/HS-ST ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên Hội đồng xét xử không đề cặp xem xét, xử lý là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2020.

- Về vật chứng:

Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị cáo.

- Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ