vanban.org

Bản án 83/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 28/10/2019.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi sắt mũi nhọn dài 20cm; 01 (một) chiếc áo thun màu trắng mặt sau ghi chữ ITALIA số 67 và 01 (một) chiếc quần kaki ngắn màu xám. (Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 70/PNK ngày 01/4/2020) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huỳnh Lê Tr - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 28/10/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2020/HS-ST
Ngày 22 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Huê

Bà Đặng Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 30/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 97/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Huỳnh Lê Tr (tên gọi khác: B); sinh năm 1983 t i Thành phố H Ch Minh; nơi cư trú: 319Bis L Phường 15 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tường V và bà Huỳnh Thị Xuân H; có vợ và 02 con con lớn sinh năm 2005 con nhỏ sinh năm 2008; tiền án tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Tháng 02/2002, nh p ngũ thực hiện nghĩa v quân sự t i Trung đoàn Gia Định - Bộ chỉ huy quân sự Thành phố H Ch Minh. Ngày 12/01/2004, có quyết định cho xuất ngũ.

- Ngày 17/12/2009 Chi c c Phòng chống tệ n n xã hội Thành phố H Ch Minh tặng Giấy khen do có thành t ch xuất sắc trong thực hiện công tác phòng chống ma túy.

Bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 28/10/2019 đến nay (có mặt).

- Bị hại:

1. Anh Huỳnh Bá L sinh năm 1997; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 77 Ấp V, xã N huyện C tỉnh Trà Vinh; chỗ : C12/30 P, xã B huyện C Thành phố H Ch Minh) (vắng mặt)

2. Ông Lê Hùng K sinh năm 1973; nơi cư trú: 174/4B M Phường 15 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vì muốn có tiền tiêu xài và trả nợ Nguyễn Huỳnh Lê Tr nảy sinh ý định chiếm đo t tài sản của người khác để bán lấy tiền. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 07/7/2019 sau khi uống cà phê và ngủ qua đêm t i một quán cà phê võng (không rõ địa chỉ và tên quán) trên đường N, T đi bộ đến khu vực ngã tư đường N – P thuộc xã B huyện C Thành phố H Ch Minh. T i đây T nhìn thấy anh Huỳnh Bá L đang điều khiển xe gắn máy biển số 84K1-327.81 (anh L đang là tài xế xe ôm công nghệ - Grab) nên giả vờ đón xe và thuê anh L ch Tr đi đến hẻm 329 đường L Phường 15 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh.

Khoảng 06 giờ cùng ngày khi anh L ch Tr đến trước số 329/16A L Phường 15 Qu n 8 lợi d ng lúc đường vắng người Tr yêu cầu anh L dừng xe r i bất ngờ dùng tay trái siết cổ anh L dùng tay phải mốc từ trong túi ra 01 con dao cán vàng kề vào cổ anh L để khống chế và nói “Tao chỉ muốn lấy xe” r i yêu cầu anh L xuống xe. Nhìn thấy Tr sơ h nên anh L l p tức giằng co với Tr và nắm giữ chìa khóa xe lúc này Tr dùng con dao đang cầm trên tay đâm 01 nhát trúng vào cẳng tay trái của anh L gây thương t ch.

Trong lúc giằng co cả hai làm ngã xe của anh L xuống đường anh L truy hô và được người dân xung quanh nghe thấy và truy hô thông báo xung quanh về sự việc. Bị phát hiện Tr bỏ xe và ch y bộ đến cuối hẻm 329 L leo lên mái nhà số 174/4B M thấy có 01 cái thang, Tr leo xuống trên tay vẫn cầm theo con dao thì gặp ông Lê Hùng K. Thấy Tr cầm dao nên ông K hỏi thì Tr nói xin cho trốn vì đang bị người khác rược đánh. Ông K hoảng sợ không kịp phản ứng thì Tr nhìn thấy xe gắn máy biển số 50L1-9412 của ông K dựng trước nhà trên xe còn gắn chìa khóa nên Tr leo lên xe nổ máy bỏ ch y vào trong hẻm 174 M, ông K đuổi theo. Do hẻm c t nên Tr cho xe quay đầu điều khiển xe ra trước nhà 174/6 thì bị ông K dùng cây truy cản nhưng Tr né được đ ng thời cầm dao chỉa về phía ông K với m c đ ch hăm dọa để ông K không truy đuổi. Vì thấy Tr cầm dao nên ông K ngừng truy đuổi khi Tr đi đến đầu hẻm thì bị quần chúng ném v t d ng cản tr Tr né tránh và té ngã, Tr bỏ xe ch y bộ thì bị quần chúng và Công an phường truy đuổi bắt được đưa Tr về tr s Công an phường làm việc và t m giữ của Tr 01 con dao cán vàng Tr dùng làm công c cướp xe của anh L, ông K. H sơ được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra làm rõ.

Ngày 31/7/2019, Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết lu n: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 84K1-327.81 có giá trị là 13.500.000 đ ng; 01 xe gắn máy hiệu Honda CI00 biển số 50L1-9412 có giá trị là 2.700.000 đ ng.

Ngày 21/10/2019, Cơ quan điều tra đã kh i tố v án kh i tố bị can, bắt t m giam đối với Nguyễn Huỳnh Lê Tr về tội “Cướp tài sản”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Huỳnh Lê Tr đã khai nh n toàn bộ hành vi ph m tội như đã nêu trên lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị h i người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong h sơ v án. Trong ngày 07/7/2019 anh Huỳnh Bá L có đơn từ chối giám định thương t ch và giao nộp v t chứng vì cho rằng vết thương do Tr dùng dao gây ra nhẹ xe gắn máy biển số 84K1-327.81 là phương tiện lao động của mình.

Xe gắn máy biển số 84K1-327.81, qua xác minh do ông Huỳnh Văn Th (là cha anh Huỳnh Bá L) đứng tên đăng ký xe, ông Th giao xe cho anh L làm phượng tiện ch y xe ôm sau đó bị Tr chiếm đo t. Xe gắn máy biển số 50L1-9412, qua xác minh do ông Lê Hùng K đứng tên đăng ký xe, ngày 07/7/2019 bị Tr chiếm đo t. Anh L và ông K từ chối giao nộp xe và hiện vẫn đang quản lý xe.

Con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi sắt mũi nhọn dài 20cm, Tr khai nhặt được trong quán cà phê võng trước khi gặp anh L; 01 áo thun màu trắng mặt sau ghi chữ ITALIA số 67 và 01 chiếc quần kaki ngắn màu xám là đ Tr mặc vào thời điểm ph m tội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị h i là anh Huỳnh Bá L và ông Lê Hùng K không yêu cầu bị cáo b i thường thiệt h i.

T i bản Cáo tr ng số 41/CT-VKS ngày 25/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr về tội “Cướp tài sản”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử ph t bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự do bị h i không yêu cầu nên không xem xét. Về v t chứng thu giữ đề nghị áp d ng Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Điều 106 của Bộ lu t tố t ng hình sự tuyên xử lý theo quy định pháp lu t.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị h i người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào khoảng 06 giờ ngày 07/7/2019, t i trước số 329/16A L Phường 15 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr có hành vi dùng con dao cán vàng mũi nhọn lưỡi sát dài 20cm d vào cổ anh Huỳnh Bá L m c đ ch để chiếm đo t xe gắn máy biển số 84K1-327.81 do anh L quản lý. Sau khi bị anh L chống trả giằng co, Tr bị truy đuổi thì tiếp t c chiếm đo t xe gắn máy biển số 50L1-9412 của ông Lê Hùng K khi bị anh K truy cản bị cáo tiếp t c dùng con dao nói trên đe dọa ông K và điều khiển xe tẩu thoát nhưng sau đó bị bắt quả tang. Tổng giá trị các tài sản bị cáo chiếm đo t là 16.200.000 đ ng.

Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp tài sản” như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

...

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm ph m đến quyền s hữu tài sản của cá nhân được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo sử d ng con dao lưỡi sắt nhọn làm công c để khống chế đe dọa bị h i nhằm m c đ ch chiếm đo t tài sản là thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí”. Như v y Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong v án này bị cáo đã 02 lần chiếm đo t tài sản của bị h i Huỳnh Bá L và Lê Hùng K do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định t i điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đo t đã được thu h i trả cho bị h i thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; bị cáo đã từng nh p ngũ thực hiện nghĩa v quân sự; có thành t ch xuất sắc trong thực hiện công tác phòng chống ma túy được tặng thư ng Giấy khen. Vì v y Hội đ ng xét xử áp d ng các điểm h s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.

Về v t chứng t m giữ trong v án: 01 con dao Thái Lan cán màu vàng là công c bị cáo dùng để ph m tội; 01 áo thun màu trắng và 01 chiếc quần kaki màu xám là đ Trung mặc vào thời điểm ph m tội không có giá trị sử d ng. Do đó Hội đ ng xét xử căn cứ các điểm a c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự các bị h i không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt h i nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Do anh Huỳnh Bá L từ chối giám định thương t ch nên Hội đ ng xét xử không có cơ s xem xét hành vi Tr dùng dao gây thương t ch cho anh L khi đe dọa chiếm đo t xe từ anh L.

Về án ph hình sự: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm h s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 28/10/2019.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điểm a c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi sắt mũi nhọn dài 20cm; 01 (một) chiếc áo thun màu trắng mặt sau ghi chữ ITALIA số 67 và 01 (một) chiếc quần kaki ngắn màu xám.

(Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 70/PNK ngày 01/4/2020)

- Căn cứ vào Điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Lê Tr nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị h i vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày t nh từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ