vanban.org

Bản án 83/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Cúc H. Cho chị Trịnh Cúc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ng.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Cúc H. Giao cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/11/2017 cho chị Trịnh Cúc H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Văn Ng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thiện Nhân mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Cúc H -Nguyễn Văn Ng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Cúc H. Cho chị Trịnh Cúc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hùng.

Ông Châu Hải Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Cúc H, sinh năm 1995; cư trú tại: Ấp 11, xã Kh, huyện U, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1994; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Trịnh Cúc H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Ng kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng gần đây xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân gần 01 năm nay. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Chị và anh Ng có 01 người con tên Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/11/2017. Hiện nay đang do chị nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nhân, buộc anh Ng cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ: Chị H xác định không có.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn Ng, nhưng anh Ng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của chị H; 2 lần Tòa án thông báo hòa giải và 2 lần triệu tập xét xử nhưng anh Ng cũng không tham dự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H thấy rằng: Anh Ng đã được Tòa án thông báo nội dung chị H khởi kiện, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều đó cho thấy anh không muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị H. Do vậy việc chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, dẫn đến sống ly thân là có thật. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Ng là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi con, xét thấy cháu Nhân chưa đủ 3 tuổi, cần có sự chăm sóc của mẹ, trong khi anh Ng không có ý kiến phản đối. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu Nhân cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H thấy rằng: Pháp luật quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nên yêu cầu cấp dưỡng của chị H được chấp nhận. Về mức cấp dưỡng thì mặc dù anh Ng không có ý kiến phản bác, nhưng theo chị H khai anh Ng làm công nhân, nên mức cấp dưỡng hàng tháng 3.000.000đ mà chị yêu cầu là không phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận mức thấp hơn vừa đảm bảo nuôi con, vừa đảm bảo cuộc sống cho anh Ng. Còn thời hạn cấp dưỡng chị yêu cầu tính từ ngày xét xử là phù hợp.

Về tài sản và nợ chung: Chị H xác định không có, anh Ng không phản đối nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình: Do yêu cầu được chấp nhận nên chị H phải chịu theo quy định.

Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Văn Ng phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng; Áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Cúc H. Cho chị Trịnh Cúc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ng.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Cúc H. Giao cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/11/2017 cho chị Trịnh Cúc H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Văn Ng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thiện Nhân mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/4/2020).

Anh Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trịnh Cúc H phải chịu là 300.000 đồng. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0010279 ngày 03/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Ng phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Chị H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Ng có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ