vanban.org

Bản án 83/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Cầm Văn T, Cầm Văn T1 ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử ph t: Cầm Văn T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (12/4/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cam Van T va dong pham - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Cầm Văn T, Cầm Văn T1 ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 83/2019/HSST
Ngày: 15/8/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Cương; ông Lò Văn Viễn.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 77/2019/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 76/ 2019/QĐXXST-HS ngày 31/7/2019, đối với các bị cáo sau đây:

1. Họ và tên: Cầm Văn T, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: bản Nà C, xã Chiềng C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; con ông: Cầm Văn L; con bà: Cầm Thị M (đã chết); vợ: Cầm Thị S, có 03 người con: Lớn nhất sinh 1997, nhỏ nhất sinh 2012; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010: Bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã xử ph t 06 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích); bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 12/4/2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

2. Họ và tên: Cầm Văn T1, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: bản Nà C, xã Chiềng C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; con ông: Cầm Văn T; con bà: Lường Thị T; vợ: Cà Thị H, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 12/4/2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 00giờ 15 phút ngày 12/4/2019, tổ công tác Ban Công an xã Chiềng C, Sông Mã làm nhiệm v t i bản Nà C, Chiềng C, Sông Mã phát hiện hai đối tượng là Cầm Văn T và Cầm Văn T đi chung 01 xe mô tô biển kiểm soát 26C1-04655 có biểu hiện nghi vấn. Khi tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Cầm Văn T 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 10 viên nén màu hồng (T và T1 khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản ph m tội quả tang đối với T và T1. Ngoài ra còn t m giữ của T 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Forme, của T1 01 xe mô tô Wave Honda biển kiểm soát 26C1-04655 và 01 điện tho i di động Nokia.

Ngày 14/4/2019 t i Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, hội đồng bóc m niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: 10 viên nén màu hồng thu giữ của T có khối lượng là 0,97 gam. Trích 05 viên có khối lượng là 0,48 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1, vật chứng còn l i là 0,49 gam ký hiệu T.

T i bản kết luận số 772 ngày 16/4/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,97 gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 11/02/2019, T đem theo số tiền 300.000 VNĐ đi bộ từ nhà lên hướng bản Nhọt C, Chiềng C, Sông Mã m c đích tìm mua ma túy để sử d ng. Đi được khoảng 03km thì T thấy một lán nương, T vào lán gặp một người đàn ông dân tộc Mông (khoảng 50 tuổi, không rõ tên, tuổi) T hỏi mua viên Hồng phiến thì người này đồng ý, T lấy số tiền 300.000 VNĐ đưa cho người này, sau khi nhận tiền người Mông này đi ra khỏi lán khoảng 15 phút quay l i đưa cho T 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 12 viên hồng phiến, mua được ma túy T đem về nhà. Khi về đến nhà T thấy cháu Cầm Văn T1 là người cùng bản đi xe mô tô đến chơi nên T nói với T1 là đang có mấy viên hồng phiến, nhưng không giám sử d ng nhà vì sợ vợ biết và rủ T1 ch sang nhà Lò Văn D bản Nà B, Chiềng C để cùng sử d ng Hồng phiến thì T1 đồng ý. T điều khiển xe mô tô của T1 ch T1 đến nhà của D, khi đến nhà D thì T nhét gói ma túy vào đồng củi gần cầu thang rồi đi lên nhà nhưng không thấy D nên T và T1 ngồi đợi. Một lúc sau thì thấy D về, T đi ra ngoài lấy gói ma túy vào và gi ra trước mặt của T1 và D, D nhặt lấy ra 02 viên để D cùng T1 và T sử d ng bằng hình thức hít qua đường hô hấp. Khi sử d ng xong T bảo T1 gói số ma túy còn l i để đem về cùng sử d ng thì T1 đồng ý gói l i bằng mảnh nilon ban đầu rồi đưa cho T. Sau đó T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô ch T1 đi về, khoảng 00 giờ 15 phút T và T1 về đến nhà văn hóa bản Nà C, Chiềng C thì bị tổ công tác Ban Công an xã làm nhiệm v kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo tr ng số: 77/CT-VKSSM ngày 10 tháng 7 năm 2019, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Cầm Văn T, Cầm Văn T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử ph t bị cáo Cầm Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; Cầm Văn T1 từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình ph t bổ sung cho các bị cáo. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra t i phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa; trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của các bị cáo c ng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, các bị cáo nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng đều xin được giảm nh hình ph t.

Các bị cáo đều mắc nghiện ma túy, khi có ma tuý thường rủ nhau sử d ng. Ngày 12/4/2019, sau khi cùng nhau đi sử d ng ma tuý về thì bị bắt quả tang. Tang vật thu giữ được theo kết luận giám định là ma tuý, lo i Methamphetamine, tổng khối lượng 0,97gam.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Cầm Văn T, Cầm Văn T1 ph m tội “Tàng trữ trái phép ch t ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự t i địa phương và gây bức xúc trong nhân dân. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo trong v án: Bị cáo Cầm Văn T1 giữ vai trò thứ yếu, (bị rủ rê, lôi kéo); bị cáo Cầm Văn T là người giữ vai trò chính, (rủ rê, cung cấp ma tuý). Do đó, bị cáo T phải chịu mức hình ph t cao hơn so với đồng ph m.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nh quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp d ng cho các bị cáo được hư ng, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về số ma tuý thu giữ được trong v án: T khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để m rộng v án, cần chấp nhận.

Đối với hành vi của Lò Văn D sử d ng địa điểm là nhà của mình để cùng T và T1 sử d ng ma túy. Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã tiến hành xác minh, theo gia đình và chính quyền địa phương cho biết D không có mặt t i địa phương, đang đi làm thuê nhưng không rõ đâu nên không tiến hành ghi lời khai để làm rõ, xử lý hành chính đối với D về hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Kiến nghị cơ quan Điều tra tiếp t c điều tra, xử lý Lò Văn D theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô Wave RSX, nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 26C1-04655 đăng ký mang tên Thào A T là tài sản do Cầm Văn T (bố đẻ của T1) mua l i từ năm 2014, xác định không liên quan đến việc ph m tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã trao trả l i chiếc xe cho chủ s hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vật chứng còn l i gồm: 0,49 Hồng phiến trong phong bì thư niêm phong; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trăng; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc m là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 02 điện tho i di động t m giữ của các bị cáo không liên quan đến việc ph m tội, nên cần trả l i.

Xét thấy, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đều có chứng nhận hộ nghèo nên miễn hình ph t bổ sung và án phí cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Cầm Văn T, Cầm Văn T1 ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử ph t: Cầm Văn T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (12/4/2019).

- Xử ph t: Cầm Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (12/4/2019).

2. Vật chứng: p d ng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành đã niêm phong kín. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng v : Cầm Văn T, sinh năm 1977, nơi ĐLHKTT: Bản Nà C, Chiềng C, Sông Mã, Sơn La. Gồm: T=0,49 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trăng; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc m ". Mặt sau phong bì trên mặt giấy dán niêm phong có ghi dòng chữ "Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sông Mã, ngày 14/4/2019”; có 05 chữ ký, 02 dấu vân tay, 07 dùng chữ ghi đầy đủ họ tên của thành phần tham gia niêm phong, cùng 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Trả l i cho Cầm Văn T: 01 điện tho i di động FORME, màu đen-cam, có số IMEl: 35972040422987, máy đã qua sử d ng.

- Trả l i cho Cầm Văn T1: 01 điện tho i di động NOKIA màu đen, có số IMEl: 353454049501937, trong máy có gắn 01 sim Viettel, máy đã qua sử d ng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: p d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễm án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ