- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2018/HSST Ngày: 19/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Viết Côi
+ Ông Nguyễn Hạ Tuấn
-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2018/HSST ngày 24/9/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HS ngày 05/10/2018 đối với bị cáo: Nguyễn Duy Đ - sinh năm 1971; Nơi sinh và nơi cư trú: thôn TĐ, xã XX, huyện MĐ, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy G (đã chết) và bà Hà Thị T; có vợ Nguyễn Thị L – sinh năm 1972 và 02 con (lớn SN 1992, nhỏ SN 1995); tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 13/01/2011 bị Chủ tịch UBND huyện MĐ ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng và quyết định quản lý sau cai nghiện 24 tháng kể từ ngày 20/01/2013. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/8/2018 đến ngày 21/8/2018 tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị L – sinh năm 1972 Trú tại: thôn TĐ, xã XX, huyện MĐ, TP. Hà Nội (Có mặt). * Người làm chứng: Trần Trung H – sinh năm 1998 Trú tại: Đường HVT, TT. VĐ, huyện UH, TP. Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/8/2018, Đ điều khiển xe mô tô Wave RSX màu trắng – đen, biển kiểm soát: 29E1 –211.30 đi từ nhà đến thôn Phí Trạch, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân; Đ đã mua được của một người đàn ông không quen biết ở đường làng 02 gói ma túy giá 200.000 đồng rồi cất ở túi áo ngực đang mặc và đi về. Đến khoảng 22 giờ 20 phút, khi về đến phố Nguyễn Thượng Hiền, thị trấn VĐ thì bị Tổ công tác Cảnh sát cơ động – Công an TP. Hà Nội đang làm nhiệm vụ ở đây thấy Đ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện và thu giữ 02 gói nhỏ bọc bằng giấy trong túi áo ngực của Đ, Đ khai thừa nhận đó là ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng đồng thời bàn giao người và vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa để xử lý theo qui định.
Vật chứng thu giữ: + 02 gói nhỏ bên ngoài đều bọc bằng giấy, bên trong đều có các cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư đề mẫu Đ1+ 01xe mô tô Wave RSX màu trắng – đen, biển kiểm soát (Viết tắt: BKS): 29E1 –211.30
Kết luận giám định số 6643/KLGĐ-PC54 ngày 20/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (mẫu Đ1) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,120 gam”.
Bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 24/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Duy Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn;
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì thư chứa ma túy gửi lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ân hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Duy Đ là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân, tối ngày 12/8/2018, Đ một mình điều khiển xe mô tô BKS: 29E1-211.30 của nhà đến khu vực thôn Phí Trạch, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội tìm và mua của một đối tượng không quen biết 200.000 đồng được 02 gói ma túy loại Heroin có tổng trọng lượng 0,120gam rồi cất vào túi áo ngực đang mặc; trên đường về đến phố Nguyễn Thượng Hiền, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội thì bị lực lượng Cảnh sát Cơ động - Công an TP. Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại đây thấy nghi vấn nên kiểm tra, bắt giữ. Đối chiếu với qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của Nguyễn Duy Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Về nhân thân, năm 2011 bị cáo đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng và tiếp tục bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện 24 tháng, nhưng bị cáo không coi đó là bài học để quyết tâm từ bỏ ma túy mà lại tái nghiện, tiếp tục tìm mua ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn ham muốn của bản thân. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhưng cố ý vi phạm. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặt khác, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi mẹ già 81 tuổi, các con đều còn đang đi học, gia đình có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận nên có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức thấp của khung hình phạt, đồng thời miễn hình phạt bổ sung để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Đối tượng bán ma túy cho Đ, Đ khai người này là đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1m62, người gầy, tóc cắt ngắn, ở Phí Trạch, Phương Tú, việc mua bán diễn ra ở ngoài đường. Ngoài lời khai của Đ thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.
Về vật chứng: Chiếc xe mô tô Wave RSX màu trắng - đen, BKS: 29E1-211.30, điều tra làm rõ xe này trước đây chị Nguyễn Thị L (vợ bị cáo) mua lại của anh Nguyễn Văn Hải – SN 1976 ở Hà Xá, Đại Hưng, MĐ, Hà Nội (chủ đăng ký xe) để làm phương tiện đi lại. Ngày 12/8/2018, Đ sử dụng xe này làm phương tiện đi mua ma túy chị L không biết nên không có lỗi; vì vậy, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chị L, chị L đã nhận lại xe này và không có ý kiến, đề nghị gì nên HĐXX không xét. Vật chứng còn lại là phong bì thư niêm phong gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Duy Đ 13 (Mười ba) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/8/2018 đến ngày 21/8/2018. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Xác nhận việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị L) đã nhận lại xe mô tô BKS: 29E1-211.30 là tài sản thuộc quyền quản lý sử dụng của mình và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong gửi lại sau giám định (có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 03/10/2018).
3.Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình).
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo, Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến |