vanban.org

Bản án 83/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Hà Hoàng A.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hị Đỗ Thị H xin ly hôn anh Hà Hoàng A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Hà Hoàng A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 10 - 2018
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Trúc

Bà Ngô Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Sỹ Vĩ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H - Sinh năm 1987

Nơi ĐKHKTT: Số nhà 269, phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ hiện nay: Xóm 3, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Hà Hoàng A - Sinh năm 1984

Trú tại: Số nhà 269, phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa, có mặt chị H, vắng mặt anh Hà Hoàng A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2018, các văn bản tố tụng do Tòa án tiến hành và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh Hoàng A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 22/02/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống không đồng nhất, anh Hoàng A không kiếm ra tiền, sống dựa dẫm vào bố mẹ nên mọi việc trong nhà chị chẳng quyết định được gì, suốt ngày còn bị chửi mắng. Vợ chồng không có con chung, chồng cũng không nói gì đến chuyện con cái. Tám năm ở nhà chồng chị sống trong đau khổ. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 11/ 5/2018 đến nay không quan tâm nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng A. Vợ chồng không có con chung và tài sản chung.

Tại Bản tự khai ngày 30 tháng 7 năm 2018, bị đơn là anh Hà Hoàng A trình bày: Anh và cô H tổ chức cưới ngày ngày 04/3/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, chung nhau lo làm ăn sinh sống không có xảy ra lộn xộn. Trong gia đình mọi việc đều bàn bạc, lo cho cuộc sống lâu dài, chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ nhau mặc dù thời gian dài ấy vợ chồng hiếm muộn về con cái. Cô H không chịu đi khám và điều trị, đã bàn đến việc xin con nuôi hoặc thụ thai theo khoa học nhưng cô H không ưng thuận và cuối cùng bỏ về ở với bố mẹ đẻ. Bản thân anh vẫn còn thương yêu cô H nên không đồng tình ly hôn với cô H. Vợ chồng không có con chung và tài sản chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị H nộp đơn khởi kiện xin ly hôn anh Hà Hoàng A có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại: Số nhà 269, phố Lê Lợi, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo phiên họp công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập cho anh Hoàng A nhưng anh Hoàng A đều vắng mặt không có lý do. Vì thế, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Phiên tòa ngày 18/9/2018, anh Hoàng A vắng mặt, HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh Hoàng A tiếp tục vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị H và anh Hoàng A kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có con chung dẫn đến cuộc sống không có hạnh phúc, không quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, cuộc sống của ai người đó tự lo. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Hoàng A không có mặt. Anh Hoàng A cũng không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, chị H vẫn tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị được ly hôn anh Hoàng A.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS; các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Hà Hoàng A.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005114 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ