vanban.org

Bản án 83/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Hoàng Thđối với anh Nguyễn Thanh PH. Cho ly hôn giữa chị Lê Hoàng Thvà anh Nguyễn Thanh PH.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thanh Oh, sinh ngày 15/7/2005 cho anh PH có quyền, nghĩa vụ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Thtự nguyện đồng ý có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Hoàng Thđối với anh Nguyễn Thanh PH. Cho ly hôn giữa chị Lê Hoàng Thvà anh Nguyễn Thanh PH.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2018/HNGĐ-ST.
Ngày 21-9-2018.
V/v tranh chấp: “ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hoài Hiêm.

Ông Nguyễn Tấn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 385/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Hoàng Thoại, sinh năm 1983; Địa chỉ cư trú: Ấp Th, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh PH, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp Th, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thtrình bày: Chị và anh PH tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn ngày 08/4/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về xây nhà trên đất của cha mẹ chồng để ở và vợ chồng sống hạnh Ohc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh PH ham mê cờ bạc, chị khuyên can nhiều lần nhưng anh PH vẫn không nghe, đến năm 2016 anh PH bỏ nhà đi không liên lạc được, đến tháng 12/2017 anh PH quay về nhưng vẫn không thay đổi nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 01/2018 đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh PH.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung tên Nguyễn Thanh Oh, sinh ngày 15/7/2005, đang theo sống với anh PH, sau khi ly hôn chị đồng ý để anh PH tiếp tục nuôi con, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh PH thể hiện lời trình bày trong hồ sơ: Nhận thấy thống nhất với lời khai của chị Thvề thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng do anh ham mê cờ bạc, năm 2016 anh có lấy của chị Th10.000.000 đồng và chơi bài thua hết, anh sợ chị Thbuồn nên anh đã bỏ nhà đi, nay anh quay về để đoàn tụ với vợ con nhưng chị Thkhông tha thứ cho anh. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị Thoại. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì con chung theo ai người đó nuôi, không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do chính đáng mặt dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần hai, gây khó khăn, kèo dài việc giải quyết vụ án.

2. Việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Thđối với anh PH.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh Oh, sinh ngày 15/7/2005 cho anh PH tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị Thđồng ý có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh PH đến lần thứ hai nhưng anh PH vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh PH là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Thvà anh PH tự nguyện kết hôn với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị Thoại, anh PH chung sống hạnh Ohc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do anh PH ham mê cờ bạc, không quan tâm, lo lắng cho gia đình. Chị Thvà anh PH đã sống ly thân từ tháng 01/2018 nhưng anh PH không có thiện chí tìm gặp chị Thđể hàn gắn tình cản vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Thvà anh PH đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Thyêu cầu ly hôn với anh PH, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thanh Oh, sinh ngày 15/7/2005, đang theo sống với anh PH, sau khi xem xét nguyện vọng của cháu Oh và điều kiện nuôi con xét thấy cần thiết giao cho anh PH tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị Thtự nguyện đồng ý có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng nên ghi nhận là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Án phí: Chị Thphải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Hoàng Thđối với anh Nguyễn Thanh PH. Cho ly hôn giữa chị Lê Hoàng Thvà anh Nguyễn Thanh PH.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thanh Oh, sinh ngày 15/7/2005 cho anh PH có quyền, nghĩa vụ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Thtự nguyện đồng ý có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu Oh đủ 18 tuổi.

Chị Thcó quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Thphải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị Thđã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016179 ngày 05/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị Thcòn phải nộp thêm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Chị Thđược quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh PH được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ