- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại cổ phần V với anh Nguyễn Nhật T"
- Tòa quyết gì? Buộc anh Nguyễn Nhật T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V số tiền nợ là 13.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 83/2017/DS-ST Ngày 01-8-2017 V/v tranh chấp hợp đồng tín tụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Thúy Lan
Bà Nguyễn Hồng Gấm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 331/2017/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 89/2017/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2017/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần V;
Trụ sở: Tầng 1-7, tòa nhà Thủ Đô, số 72, phố T, phƣờng T, quận H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Số 165-167-169 đƣờng H, phƣờng N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1993; thƣờng trú: Tổ 3, thôn 2, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ liên hệ: Số 19/32 đƣờng N, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15-5-2017), vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1993; thƣờng trú: Số 5/8, khu phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15-5-2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện của nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:
Vào ngày 12-8-2014 anh Nguyễn Nhật T có ký “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140819-104007-0001 với Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 24.150.000 đồng (hai mƣơi bốn triệu một trăm năm mƣơi ngàn đồng), lãi suất 5%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, anh Nguyễn Nhật T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng 43.100.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng thanh toán 1.751.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.827.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 tây hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01-10-2014.
Thực hiện hợp đồng, anh Nguyễn Nhật T đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Ngân hàng đƣợc 11 tháng với số tiền 23.467.000 đồng bao gồm cả gốc và lãi. Từ ngày 14-10-2016, anh T không thanh toán thêm đƣợc khoản tiền nào, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở.
Trong đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng có ghi tên bà Lê Thị Hồng H (mẹ anh T) và Nguyễn Nhật Tr (anh trai anh T) mục đích tham chiếu và thuận tiện liên lạc, bà H, anh Tr không ký tên vay tiền. Nay Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Nhật T trả một lần số tiền 13.018.683 đồng.
- Tại bản tự khai ngày 28-6-2017 và lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Nhật T trình bày:
Anh T thống nhất với nguyên đơn về việc anh có ký “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140819-104007-0001 ngày 12/8/2014 với Ngân hàng, số tiền đã vay, quá trình thực hiện hợp đồng đã trả đƣợc 23.467.000 đồng. Nay anh T đồng ý trả số tiền nợ 13.018.683 đồng , tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh xin đƣợc trả dần cho Ngân hàng mỗi tháng 1.000.000 đồng.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Lê Thị T là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Nhật T đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 17-7-2017 và ngày 01-8-2017 nhƣng bị đơn đều vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn giao nộp, chứng cứ Tòa án đã thu thập đƣợc trong hồ sơ vụ án và ý kiến của phía nguyên đơn, bị đơn và kết quả diễn biến tại phiên tòa. Xét thấy việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Nhật T phải trả số tiền còn nợ 13.018.683 đồng là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Nhật T tại địa chỉ số 5/8, khu phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng phải trả số tiền còn nợ 13.018.683 đồng phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140819-104007-0001 ngày 12-8-2014. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Thời hiệu h i iện .tranh ch p hợp đ ng là n m, t ngày người c quy n yêu c u i t ho c ph i i t quy n và lợi ch hợp pháp của mình ị xâm phạm”. Từ ngày 14-10-2016, anh Nguyễn Nhật T không thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 17-5-2017, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Lê Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Nhật T đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 17-7-2017 và ngày 01-8-2017 nhƣng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.
Xét “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140819-104007-0001 ngày 12/8/2014 đƣợc giao kết giữa Ngân hàng với anh T đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã thanh toán cho Ngân hàng đƣợc 11 lần, số tiền 23.467.000 đồng. Kể từ ngày 14-10-2016 đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, anh T không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, nhƣ vậy anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Vấn đề này đƣợc anh Nguyễn Nhật T thừa nhận, là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh T phải trả số tiền nợ gốc và lãi đến hạn 13.018.683 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu của anh T đề nghị Ngân hàng cho trả dần số nợ trên mỗi tháng 1.000.000 đồng nhƣng Ngân hàng không đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận. Do “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” không thỏa thuận về lãi quá hạn nên để bảo đảm quyền lợi của bên đƣợc thi hành án, trong trƣờng hợp này bên phải thi hành án chậm thanh toán đối với nghĩa vụ trả tiền, cần buộc bên có nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Nhật T phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Buộc anh Nguyễn Nhật T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V số tiền nợ là 13.018.683 đồng (mƣời ba triệu không trăm mƣời tám ngàn sáu trăm tám mƣơi ba đồng) phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140819-104007-0001 ngày 12-8-2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Nhật T phải chịu 650.934 đồng (sáu trăm năm mƣơi ngàn chín trăm ba mƣơi bốn đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V 326.000 đồng (ba trăm hai mƣơi sáu ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009477 ngày 01-6-2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết.
4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2) - VKSND thị xã Dĩ An (1); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - Lƣu VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Ngà |