vanban.org

Bản án 824/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Doãn Nguyễn Hạnh T.

* Về quan hệ vợ chồng: Bà Doãn Nguyễn Hạnh T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn P. * Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Hào P, sinh ngày 18.5.2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Doãn Nguyễn hạnh T-Nguyễn tấn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Doãn Nguyễn Hạnh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 824/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10.8.2018.
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Ông Lê Viết Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 120/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2018/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Doãn Nguyễn Hạnh T – sinh năm: 1990 (có đơn xin vắng mặt)

Thường trú: 50D ấp 5, xã H, huyện Y, Tp. Z.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P – sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Thường trú: 169/1A ấp T, xã X, huyện Y, Tp. Z.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17.01.2018, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Doãn Nguyễn Hạnh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Tấn P tự nguyện tổ chức đám cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y vào ngày 14.6.2013.

Sau khi cưới vợ chồng sống bên nhà chồng tại địa chỉ 169/1A ấp T, xã X, huyện Y, Tp. Z. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 5 năm 2015 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông P thường nói dối đi làm tăng ca để tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, sống hời hợt, ít lo cho gia đình. Ông P không có công việc ổn định, không tôn trọng bà, vợ chồng sống không còn lòng tin cũng như sự quan tâm chăm sóc cùng nhau xây dựng gia đình. Tháng 8 năm 2015 ông P đã từng viết giấy hứa sẽ thay đổi nhưng ông P vẫn không thay đổi. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho đến nay.

Nay bà xác định tình cảm của bà đối với ông P không còn, cuộc hôn nhân của ông bà chỉ còn là hình thức nên bà xin ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.

Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Hào P, sinh ngày 18.5.2016. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông P không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Về phía bị đơn Nguyễn Tấn P, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn Nguyễn Tấn P cư trú tại địa chỉ 169/1A ấp T, xã X, huyện Y, Tp. Z nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng ông Nguyễn Tấn P không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho ông P nhưng ông P vẫn không có mặt. Nguyên đơn Doãn Nguyễn Hạnh T có đơn xin vắng mặt. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử nhận thấy bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y vào ngày 14.6.2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

* Về quan hệ vợ chồng: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P có thời gian chung sống từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và đã có 01 con chung. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh theo lời trình bày của bà T là do ông P thường tụ tập bạn bè ăn nhậu, không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình, ông P không có công việc ổn định, không tôn trọng bà và vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và Thông báo phiên hòa giải theo quy định để tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông Nguyễn Tấn P không đến, như vậy việc hàn gắn là không còn biện pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Doãn Nguyễn Hạnh T và ông Nguyễn Tấn P đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ly hôn là cần thiết nên việc bà Doãn Nguyễn Hạnh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

* Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Hào P, sinh ngày 18.5.2016. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hiện con chung đang sống chung với bà. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho bà Doãn Nguyễn Hạnh T trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo được sự ổn định và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt nên yêu cầu này có cơ sở chấp nhận và ghi nhận việc bà không yêu cầu ông Nguyễn Tấn P cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: không có.

* Về nợ chung: không có.

Đối với bị đơn Nguyễn Tấn P, Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông Nguyễn Tấn P không đến Tòa để đưa ra ý kiến và yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về án phí: Bà Doãn Nguyễn Hạnh T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Doãn Nguyễn Hạnh T.

* Về quan hệ vợ chồng: Bà Doãn Nguyễn Hạnh T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.

* Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Hào P, sinh ngày 18.5.2016.

Giao trẻ Hào P cho bà Doãn Nguyễn Hạnh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Tạm ngưng việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Tấn P cho đến khi có yêu cầu của bà Doãn Nguyễn Hạnh T.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: không có.

* Về nợ chung: không có.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Doãn Nguyễn Hạnh T chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0017849 ngày 30.01.2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ