- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 821 /2018/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2018 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Đạt
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa :Bà Đặng Thị Thu Hương– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số263/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số143/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số108/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H – sinh năm 1994 (Có mặt)
Thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng T – sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Phường A, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hồng T tự nguyện tìm hiểu và đến với nhau. Hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 quyển số 01 ngày 22/3/2016. Sau khi cưới vợ chồng về sống chung cùng gia đình nhà ông T.Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, kinh tế khó khăn. Ông T nghiện game và cờ bạc, không lo đi làm, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng dẫn đến hai bên không còn sống chung nhà. Bà đưa con về quê (huyện C, tỉnh Khánh Hòa) sinh sống từ tháng 5/2017 cho đến nay. Bà đã tạo điều kiện, cơ hội để vợ chồng tự điều chỉnh và hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.Thỉnh thoảng ông T có đến thăm con. Ông T vẫn không thay đổi, khắc phục khuyết điểm. Vợ chồng không chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống. Nay bà nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T.
Về quan hệ con chung : Bà H khai có 01 con chung là Nguyễn Hồng K sinh ngày 15/9/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung : Bà H khai không có và không nợ ai.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Hồng T nhưng ông T vẫn vắng mặt. Ông T không có lời khai, cũng như Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên Tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn cư trú tại quận Tân Phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án : Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn. Căn cứ lời khai và các chứng cứ thu thập được thể hiện vợ chồng bà H và ông T chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn. Thực tế vợ chồng không sống chung nhà. Do đó yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ con chung : Bà H khai có 01 con chung là Nguyễn Hồng K sinh ngày 15/9/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung của bà H và ông T còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và được bà H trực tiếp nuôi dưỡng từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H.
Về tài sản chung và nợ chung : Bà H khai không có và không nợ ai nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa sở thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn”. Do ông T hiện đang cư ngụ tại quận Tân phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 22/3/2016, thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Hồng T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhân.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông T không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặc dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, lời khai của phía nguyên đơn để xem xét giải quyết vụ án.
Căn cứ vào chứng cứ, lời khai của bà H trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thể hiện thời gian vợ chồng bà H, ông T chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng ông T không đến Tòa. Điều này chứng minh ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T ngày càng trầm trọng , mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không có hạnh phúc. Thực tế hai bên không còn sống chung nhà.
Xét thấy, tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.Thực tế bà H, ông T không sống chung nhà thì hai bên không thể thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông T là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Bà H khai có 01 con chung là trẻ Nguyễn Hồng K sinh ngày 15/9/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện con chung của ông T, bà H vẫn đang sinh sống cùng bà H, con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, việc bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có và không nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu ông T có chứng cứ cho rằng hai bên có tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147;Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Điều 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòaán.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T theo giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 22/3/2016 chấm dứt kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Về quan hệ con chung: Giao con chung là trẻ Nguyễn Hồng K sinh ngày 15/9/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung cho ông T do bà H không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thực cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Ông T được quyến thăm nom con không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung : Bà H khai không có và không nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu ông T có chứng cứ cho rằng hai bên có tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000đồng mà bà H đã tạm nộp theo biên lai số 0010824 ngày 27/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà H đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND TP.HCM ; - VKSND Q.Tân Phú ; - Chi cục THA DS Q.Tân phú ; -UBND xã B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa ; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyeãn Thò Höông |