- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 82/2022/HSST Ngày: 18/8/ 2022 ơ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Như Lữ
2. Ông Lò Văn Điện
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mùa A D (tên gọi khác: không), sinh năm: 1984 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: không học; con ông Mùa Giống L ( đã chết) và bà Vàng Thị M, sinh năm 1946; vợ: bị cáo đã có 03 đời vợ nhưng đã ly hôn, hiện nay vợ thứ tư là chị Vàng Thị D, sinh năm 1995 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2022 đến 28/4/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: bà Lê Thị D, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
Người phiên dịch: Anh Thào A C, sinh năm 2002, trú tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 18/4/2022 trên đường đi làm nương về đến bản N, xã P, huyện Đ, Mùa A D gặp hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết một gói Heroine với giá 20.000đ với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine D cất vào túi quần đi bộ về đến khu vực bản N, xã P, huyện Đ thì bị tổ công tác công an xã P bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ của Mùa A D là 01 gói chất bột trắng nghi là Heroine. Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 19/4/2022 xác định số chất bột trắng thu của Mùa A D có khối lượng 0,1 gam, trích 0,06 gam gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 562/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A D gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, không hoàn lại đối tượng gửi giám định.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông dân tộc Thái theo lời khai của bị cáo đã bán ma túy cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSĐBĐ ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Mùa A D về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mùa A D về tội danh tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 0,06 gam Heroine còn lại sau khi giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa nhất trí với phân tích và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí đối với bị cáo Mùa A D. Tuy nhiên, người bào chữa có lập luận thêm về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo giản đơn chỉ mua về sử dụng, khối lượng chất ma túy bị thu giữ ít, vừa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, hậu quả đã được ngăn chặn kịp thời, sinh ra lớn lên tại khu vực có điều kiện đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án đầu khung hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Mùa A D thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận vì nghiện chất ma túy nên bị cáo có hành vi mua tàng trữ 0,1 gam Heroine, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/4/2022, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hành vi tàng trữ 0,1 gam Heroine của bị cáo Mùa A D nhằm mục đích sử dụng là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; gây mất trật tự trị an xã hội; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cố ý mua tàng trữ sử dụng trái phép nên đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cũng nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến gì khác.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; nghiện ma túy do đua đòi bè bạn, chính nghiện chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo ngày hôm nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, tài sản trong gia đình chỉ là đồ dùng thiết yếu, thuộc hộ nghèo do, vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa phân tích, đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án:
Vật chứng thu giữ bị cáo là 0,1 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,06 gam không hoàn lại, còn 0,04 gam Heroine, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo có khai số ma túy 0,1 gam là mua của một người đàn ông dân tộc Thái, tuy nhiên không rõ tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Mùa A D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine đã trích trừ giám định 0,06 gam không hoàn lại, còn 0,04 gam Heroine. Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự h theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 21/7/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A D.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18 tháng 8 năm 2022./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nga |