- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần quốc n - cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số 82/2026/HS-ST Ngày 29-04-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Thanh Tùng- Hiệu trưởng trường THCS Láng Dài.
+ Bà Trần Ánh Tuyết - Bí thư đoàn xã Đất Đỏ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Quế, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 04 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2026/HSST ngày 17 tháng 03 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2026/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Quốc Nh (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/05/2009, tại Lâm Đồng; Nơi thường trú: Tổ 4, thôn Đức T, phường Tiến T, tỉnh Lâm Đồng; Nơi ở hiện nay: Tổ 15, ấp Phước L, xã Long H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc Đ, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1983. Vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/01/2026 có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Trần Ngọc Đ, sinh năm 1980 (Vắng mặt) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1983 (Có mặt); Cùng trú tại: Tổ 15, ấp Phước L, xã Long H, Thành phố Hồ Chí Minh, có quan hệ là cha và mẹ của bị cáo.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Minh Phúc, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý số 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
* Người làm công tác xã hội, hỗ trợ tâm lý và giám sát quá trình xét xử đối với bị cáo là bà Lê Thị Kim Dung công tác tại UBND xã Long H. (Có mặt)
Bị hại: Nguyễn Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/12/2011 (Có mặt); Địa chỉ: ấp Phước Thọ, xã Long H, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Thành Th, sinh năm 1990 (Vắng mặt) và bà Lê Thị Bích Quyên, sinh năm 1995 (Có mặt); Cùng địa chỉ: ấp Phước T, xã Long H, Thành phố Hồ Chí Minh, có quan hệ là cha và mẹ của bị hại.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trương Thị Thanh Th, Luật sư, thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý số 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
* Người làm công tác xã hội hỗ trợ tâm lý và giám sát quá trình xét xử đối với bị hại là bà Nguyễn Đỗ Quế Anh công tác tại UBND xã Long H. (Có mặt)
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 2008; Địa chỉ: tồ 17, ấp Phước Thọ, xã Long H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2026 Trần Quốc Nh đi bộ trên đường Thanh Xuân thuộc ấp Phước L, xã Long H, thấy cháu Nguyễn Ngọc Thảo N đang đi bộ ngược chiều trên tay có cầm điện thoại Samsung A04S nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Nhựt liền quay lại đi qua lề đường theo sau lưng cháu Như và xin tiền nhưng bị cháu Như từ chối, Nhựt tiếp tục đi theo cháu Như, đến đoạn đường vắng gần hẻm Homestay An Nhã, Nhựt dùng tay định giật lấy chiếc điện thoại của cháu Như, bị cháu Như giằng lại. Ngay lập tức Nhựt dùng hai tay ôm hai tay cháu Như để lấy chiếc điện thoại, cháu Như hét lên thì bị Nhựt dùng tay bịt miệng, đồng thời kéo cháu Như vào đường hẻm. Tại đây, Nhựt dùng tay đánh cháu Như 01 cái trúng vào sau đầu, rồi kéo cổ áo phía sau của cháu Như, đồng thời dùng chân quét qua chân cháu Như làm cháu Như té ngã ngữa xuống đất. Lúc này, Nhựt dùng tay giật lấy điện thoại trên tay cháu Như bỏ vào túi quần bên trái, rồi bỏ chạy vào vườn cây cảnh hướng nhà thờ Phước Hưng, thuộc ấp Phước Thọ, xã Long H để tẩu thoát. Cháu Như được người thân trong gia đình đưa đến cơ quan Công an trình bào sự việc. Tại cơ quan điều tra Nhựt đã khai báo toàn bộ hình vi phạm tội như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND xã Long H kết luận: Tại thời điểm định giá ngày 03/01/2026; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A04S màu xanh có giá trị 1.060.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng)
Tại kết luân giám định độ tuổi trên người sống số 24/KLGĐĐT-C09B ngày 05/01/2026 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Bộ Công an xác định: Tại thời điểm giám định (tháng 01/2026) Nguyễn Ngọc Thảo N có độ tuổi 13 năm 10 tháng đến 14 năm 4 tháng.
Tại kết luân giám định độ tuổi trên người sống số 25/KLGĐĐT-C09B ngày 05/01/2026 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Bộ Công an xác định: Tại thời điểm giám định (tháng 01/2026) Trần Quốc Nh có độ tuổi 16 năm 6 tháng đến 17 năm.
Vật chứng là chiếc điện thoại Sam sung A04S không thu hồi được; 01 áo vải thun ngắn tay màu đen, 01 quần dài vải thun màu đen cơ quan Thi hành án dân sự đang tạm giữ chờ xử lý; 01 đĩa DVD lưu trữ 02 đoạn video ghi hình ảnh vụ cướp lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 2.500.000đ, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự.
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSKV13 ngày 16/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Quốc Nh về tội “Cướp tài sản" theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168 và điểm b, s khoản 1. Khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 4 đến 5 năm tù; Tịch thu vật chứng tiêu hủy.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo; Hậu quả thiệt hại không lớn, gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo phạm tội chưa tròn 18 tuổi nhận thức pháp luật, xã hội còn hạn chế, đề nghị áp dụng mức hình phạt dưới khung là 3 năm tù.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Bị hại chưa tròn 16 tuổi, đối tượng được pháp luật bảo vệ, khi bị xâm hại về tài sản, sức khỏe sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự phát triển bình thường. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng chưa nghiêm trọng, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp với quy định pháp luật.
Người làm công tác xã hội hỗ trợ tâm lý và giám sát quá trình xét xử đối với bị cáo trình bày: Hoàn cảnh gia đình của bị cáo cha mẹ sống ly thân, thiếu sự quản lý giáo dục, bị cáo nhận thức về pháp luật còn hạn chế, xét xử cần mang tín giáo dục. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo mức án nhẹ nhất, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cuộc sống cộng đồng.
Người làm công tác xã hội hổ trợ tâm lý và giám sát quá trình xét xử đối với bị hại trình bày: Bị hại chưa tròn 16 tuổi, tâm sinh lý chưa phát triển toàn diện, khi bị xâm hại về tài sản sức khỏe sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý sau này. Tuy nhiên tính chất, mức độ ảnh hưởng không lớn, bị hại đã có đơn bãi nại, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với hành vi của bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát khu vực 13, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng: Theo đó vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2026 bị cáo đi bộ trên đường Thanh Xuân thuộc ấp Phước Lộc xã Long H, thấy bị hại đang đi bộ ngược chiều trên tay có cầm điện thoại Samsung A04S nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo quay lại theo sau lưng bị hại giả vờ xin tiền bị hại từ chối. Bị cáo tiếp tục đi theo bị hại đến đoạn đường vắng gần hẻm Homestay An Nhã, bị cáo dùng tay định giật lấy chiếc điện thoại thì bị hại giằng lại giằng lại. Ngay tức khắc bị cáo dùng hai tay ôm hai tay bị hại, bị hại hét lên thì bị bị cáo dùng tay bịt miệng và kéo bị hại vào đường hẻm. Tại đây, bị cáo đã dùng tay đánh bị hại 01 cái trúng vào sau đầu, rồi kéo cổ áo phía sau, đồng thời dùng chân quét qua chân bị hại làm bị hại té ngã ngữa xuống đất. Bị cáo dùng tay giật lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên trái rồi tẩu thoát. Bị cáo dùng vũ lực, sức mạnh vật chất chủ động tấn công vào bị hại, làm cho bị hại mất khả năng chống cự để chiếm đoạt tài sản, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản”. Tại thời điểm bị cáo phạm tội bị hại chưa tròn 16 tuổi, đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Nên có đủ căn cứ khẳng định bảng cáo trạng số 98/CT-VKSKV13 ngày 16/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 truy tố bị cáo là đúng tội danh và điều luật áp dung.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã Hội. Bị cáo thực hiện hành vi pham tội tại thời điểm chưa tròn 18 tuổi, nên áp dụng các tình tiết người chưa thành niên pham tội; Luật tư pháp người chưa thành niên làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, giá trị tài sản không lớn, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội tại thời điểm chưa tròn 18 tuổi nên áp dụng các tình tiết đối với người chưa thành niên phạm tội quy định trong bộ luật hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên giảm nhẹ hình phạt áp dụng cho bị cáo. Bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 cần áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.
Về xử lý vật chứng: 01 cái áo thun và 01 cái quần thun là vật không có giá trị nên tiêu hủy; 01 đĩa DVD được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50, 54 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.
1/-Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc Nh (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc Nh (Tên gọi khác: Không) 3 (Ba) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 05/01/2026) .
2/- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1 áo vải thun ngắn tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần dài vải thun màu đen, đã qua sử dụng; Lưu giữ 01 đĩa DVD theo hồ sơ vụ án.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự số 13, Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản giao nhận số 75/BB-PTHADS (13) ngày 16/3/2026)
3/ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
4/- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5/- Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/04/2026) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.
* Nơi nhận:
| - TAND TP.Hồ Chí Minh. - Công an TP.Hồ Chí Minh. - THA DS TP. Hồ Chí Minh. - Sở TP TP.Hồ Chí Minh - VKSND khu vực 13 - Bị cáo. - Bị hại. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tiến |