vanban.org

Bản án 82/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 08/04/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh M 08 (T1) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/4/2025. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Mạnh M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2026/HS-PT
Ngày 08-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Bích Diệp

Bà Bùi Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 40/2026/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Hoàng Mạnh M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Mạnh M, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Số A B, tổ D T, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A N, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Minh C (đã chết) và bà Phạm Thị X; chưa có vợ, con; tiền án: 01, Bản án số 19/2019/HSST ngày 17/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa thi hành nghĩa vụ nộp án phí và chưa nộp lại tiền thu lợi bất chính); nhân thân: Bản án số 1522/PTHS ngày 27/9/2004 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp tài sản, Bản án số 192/2005/HSST ngày 24/10/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản (02 tiền án này tại thời điểm phạm tội M dưới 16 tuổi nên được coi là không có án tích theo điểm a khoản 1 Điều 107 BLHS), Bản án số 41/2017/HSST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích), Bản án số 35/2022/HSST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 21/4/2025, tạm giam ngày 28/4/2025; có mặt.

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Ngoài ra còn có 01 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG V

Ụ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Hoàng Mạnh M nảy sinh ý định mua ma túy đá (Methamphetamine) để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ ngày 18/4/2025, M dùng số điện thoại 0904.271.720 gọi đến số điện thoại 0904.120.358 của Nguyễn Bảo H hỏi mua 2.500.000 đồng ma túy đá. H đồng ý và hẹn M khu vực đầu ngõ nhà H (số I B, tổ H C, phường H, TP Hải Phòng) để giao dịch mua bán ma túy. Trong lúc chờ M đến, H dùng số điện thoại số 0904.120.358 gọi đến số điện thoại 0925.510.702 của Nguyễn Duy T, sinh năm 1984, trú tại số A B, tổ I C, phường H, TP Hải Phòng để hỏi mua ma tuý đá. T trả lời “Anh không có ma tuý đá”. H nhờ T có biết chỗ nào lấy ma tuý đá không thì lấy cho H 1.000.000 đồng tiền ma tuý. Khi đó, T có 500.000 đồng cũng có ý định mua ma túy về sử dụng nên T đồng ý và đi đến gặp H lấy số tiền 1.000.000 đồng của H để mua ma túy. Khi M điều khiển xe mô tô BKS: 15AA - 182.88 đi đến địa điểm đã hẹn với H thì H đang đứng đợi sẵn, M đưa cho H số tiền 2.500.000 đồng. H cầm tiền và bảo M vào cuối ngõ đợi sẽ có người đến giao ma túy đá. Sau đó, H gặp và đưa cho T 1.000.000 đồng để mua ma túy đá (Hoàng thu lời được của M 1.500.000 đồng). T đi xe ôm ra khu vực vòng xuyến giữa đường N và đường L, phường H, TP Hải Phòng, đưa 1.500.000 đồng tiền cho người nam giới tên H1, khoảng 50 tuổi, đeo khẩu trang (không xác định được lai lịch, địa chỉ) và nhận 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 túi nhỏ chứa ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, T xúc một ít ma tuý từ túi mà H nhờ mua sang túi ma túy của T mua để sử dụng, rồi đi về gần nhà H gặp và đưa cho M 01 túi ma tuý đá H nhờ T mua, còn 01 túi ma túy của T, T mang về nhà cất giấu, sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, M mang về nhà chia nhỏ ra các túi nilon khác nhau mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/4/2025, M điều khiển xe mô tô BKS: 15AA - 182.88 mang số ma túy còn lại sau khi đã sử dụng một phần ra khu vực cây xăng thuộc Tổ G T, phường H, thành phố Hải Phòng với mục đích có ai mua thì bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H kiểm tra lập biên bản bắt giữ và thu giữ:

- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu QT1).

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 3cm x 5cm và 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 6cm x 8cm đều chứa tinh thể màu trắng (Mẫu QT2).

- 01 (một) xe mô tô mang BKS: 15AA - 182.88;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 15AA - 182.88;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, đã qua sử dụng, lắp 01 sim thuê bao số: 0837.271.720.

- Số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 21/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H khẩn cấp nơi ở của Hoàng Mạnh M, thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CBR không có biển kiểm soát (M khai mới mua nên chưa kịp đăng ký), 01 cân điện tử màu đen (M khai nhặt được cách đây 01 tháng).

Ngày 21/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khân cấp, ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bảo H, thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ có 01 lỗ cắm tẩu thủy tinh 01 lỗ cắm ống hút nhựa (H khai nhặt được từ lâu dùng để sử dụng ma túy).

Bản kết luận luận giám định số 261 ngày 28/4/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,05gam, loại: Methamphetamine. Tinh thể màu trắng của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 4,18gam, loại: Methamphetamine.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Hoàng Mạnh M, Nguyễn Bảo H đều dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Hoàng Mạnh M, Nguyễn Bảo H khai nhận về việc M mua ma tuý của H vào ngày 18/4/2025 như nội dung trên. Ngoài ra M, H còn khai nhận: khoảng 14 giờ ngày 11/04/2025, tại khu vực gần nhà H, M có mua 1.000.000 đồng tiền ma tuý đá của H. Về mục đích sử dụng: Ban đầu M khai mua về để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác, sau đó M thay đổi lời khai là ngày 11/04/2025 M mua ma túy của H để sử dụng cho bản thân. H khai đã bán ma tuý đá cho M vào ngày 11/04/2025 với số tiền là 1.000.000 đồng. Về nguồn gốc gói ma túy này, H khai nhận mua với giá 1.000.000 đồng của một người đàn ông tên H1 (không xác định được lai lịch) ở vòng xuyến đường B - Lê Hồng P vào khoảng 15 giờ ngày 11/4/2025. Sau khi mua được ma túy, H đã xúc một ít để sử dụng cho cá nhân, số ma túy còn lại H đưa cho M.

Về lý do kết quả xét nghiệm chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Hoàng Mạnh M, Nguyễn Bảo H đều dương tính với ma tuý loại Methamphetamine, M và H khai đã sử dụng từ ngày 18/4/2025, từ số ma túy M, H đã mua nêu trên.

Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng đã căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh M 08 (T1) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 21/4/2025.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo khác, về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo Bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hoàng Mạnh M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Mạnh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh M 08 (T1) năm 06 (S) tháng tù là có căn cứ, thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 20/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Mạnh M có mặt. Ngày 30/01/2026, bị cáo nộp đơn kháng cáo là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và khung hình phạt: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Mạnh M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh M 08 (T1) năm 06 (S) tháng tù là có căn cứ, thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Mạnh M và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

- Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh M 08 (T1) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/4/2025.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Mạnh M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ