- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quốc H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2025/HS-ST Ngày: 27/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Nga.
Bà Ngô Thị Thời.
- Thư ký phiên toà: Ông Mai Văn Việt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 18/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 01/4/2025, Thông báo thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 14/4/2025, Thông báo thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên tòa số 02/2025/TB-TA ngày 25/4/2025, Thông báo thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên tòa số 03/2025/TB-TA ngày 15/5/2025 đối với bị cáo:
ĐẶNG QUỐC H, sinh ngày 17/12/1989 tại huyện M, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: khu 7, thị trấn TH, huyện M, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; vợ là chị Nguyễn Thị H3, bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 01 QĐ/XPVPHC ngày 09/8/2005, Công an xã Thanh Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Tại Quyết định số 01 QĐ/XPVPHC ngày 16/8/2005, Công an xã Thanh Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đánh người gây thương tích.
- Tại Bản án số 14/2006/HSST ngày 19/4/2006, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nộp án phí ngày 21/6/2006. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2007.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Bà Phan Thị T, sinh năm 1975; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Q, thôn LC 3, xã TL, huyện M, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Số xxx, phố CK, phường BH, thành phố P, tỉnh Hải Dương (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bà Phan Thị T:
+ Ông Phạm Nhật T1, sinh năm 1949 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1950; Nơi thường trú: thôn LC 3, xã TL, huyện M, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
+ Ông Tăng Bá T3, sinh năm 1971. Vắng mặt.
+ Chị Tăng Thị T4, sinh năm 1997. Vắng mặt.
+ Chị Tăng Thị T5, sinh năm 2006. Vắng mặt.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Q, thôn LC 3, xã TL, huyện M, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Số xxx, phố CK, phường BH, thành phố P, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà T2, ông T3, chị T4 và chị T5: Anh Đỗ Văn T6, sinh năm 1990; nơi thường trú: Thôn BM, xã TQ, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Minh D1, sinh năm 1984. Vắng mặt.
+ Bà Hoàng Thị D2, sinh năm 1972. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Quốc H có giấy phép lái xe hạng A1, FC số 010126002xxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 04/8/2020, có giá trị đến ngày 04/8/2025. H là lái xe hợp đồng của hộ cá nhân kinh doanh Trần Minh D1, địa chỉ: Cụm công nghiệp BT, phường NĐ, thành phố P, tỉnh Hải Dương. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 11/12/2024, H điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 34H-033.xx kéo theo rơ mooc biển số 34R-029.xx đi từ kho HV ở thôn CP, xã KL, huyện KT, tỉnh Hải Dương để giao hàng cho Công ty Cổ phần dinh dưỡng Quốc tế X tại Cụm công nghiệp BT, phường NĐ, thành phố P, tỉnh Hải Dương. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 11/12/2024, H điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 34H- 033.xx kéo theo rơ mooc biển số 34R-029.xx lưu thông trên đường Quốc lộ 5 theo hướng thành phố Hải Phòng đi thành phố Hà Nội, đến đoạn giao nhau với đường dẫn cầu 789 hướng đi huyện S thuộc địa phận phường A, thành phố P, tỉnh Hải Dương với tốc độ khoảng 30 đến 40 km/h, đi ở làn đường thứ 3 tính từ dải phân cách trung tâm. Cách cổng Công ty may Fomostar Việt Nam có lối mở chuyển chiều đường đi vào đường dẫn cầu 789 hướng đi huyện S thuộc địa phận phường A, thành phố P, tỉnh Hải Dương. Khi cách lối mở khoảng 15 mét, H bật xi nhan phải xin đường, bấm còi và nhìn thấy xe mô tô biển số 34AK- 001.xx do bà Phan Thị T điều khiển đang dừng ở mép đường phải trước cổng công ty may Fomostar Việt Nam. H tiếp tục điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải đi vào đường dẫn cầu vượt 789, tại đây, mặt đường rộng 07 mét, hơi cong theo chiều từ trái sang phải. Lúc này bà T điều khiển xe đi lên phía trước bên phải đường Quốc lộ 5, cách xe ô tô H điều khiển khoảng từ 05 đến 10 mét. Do không chú ý quan sát, H đã để phần đầu bên phải xe ô tô va chạm vào cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 34AK- 001.xx do bà T điều khiển làm xe mô tô đổ nghiêng trái, đầu xe hướng mép đường phải, đuôi xe hướng mép đường trái, để lại vùng vết cà trượt diện 2,3 x 0,01 mét kéo theo bột đá đường màu trắng, bột sơn màu trắng chiều hướng từ đường Quốc lộ 5 đi huyện S. Bà T ngã ra đường và bị dàn bánh sau bên phải rơ mooc biển số 34R- 029.xx chèn qua. Sau va chạm, H dừng xe ô tô sát mép đường trái và xuống xe kiểm tra thấy bà T đã tử vong, H gọi điện trình báo cơ quan công an đến làm việc. Hậu quả: bà Phan Thị T bị chấn thương sọ não (vỡ xương đầu - mặt), tử vong tại hiện trường, xe mô tô biển số 34AK- 001.xx hư hỏng nhẹ.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm chất ma tuý ngày 11/12/2024 đối với Đặng Quốc H, xác định: không có nồng độ cồn trong hơi thở và không có chất ma tuý trong nước tiểu.
Tại Kết luận giám định tử thi số 396 ngày 17/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận đối với bà Phan Thị T:
Các kết quả chính: Đầu mặt biến dạng, cầu mắt hai bên thoát khỏi vị trí giải phẫu. Xương hàm trên, hàm dưới vỡ phức tạp. Xương hộp sọ vỡ phức tạp tạo mảnh rời, tổ chức não thoát ra ngoài hoàn toàn. Vết thương rách da mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay phải. Vết thương rách da mặt trước mu bàn tay phải, để lộ tổ chức cân cơ và đầu xương gãy. Bầm tụ máu in hằn (dạng vân lốp ô tô) mặt ngoài cánh tay trái đi từ mặt ngoài vai trái xuống khuỷa tay trái. Gãy khuỷu tay trái. Vết thương lóc da hõm nách trái, tạo vạt lật sang bên, ra sau để lộ tổ chức cân cơ. Kết luận: Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não (vỡ xương đầu - mặt). Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương trên cơ thể bà Phan Thị T do vật tày chèn ép gây nên là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Quốc H đã bồi thường cho gia đình bà Phan Thị T toàn bộ chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa phương tiện cùng chi phí liên quan, tổng số tiền là 250.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của gia đình bà T đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã trả lại xe ô tô tải đầu kéo biển số 34H- 033.xx, rơ mooc biển số 34R-029.xx cho ông Trần Minh D1; trả xe mô tô biển số 34AK- 001.xx cho gia đình bà T. Ông D1 và đại diện gia đình bà T đã nhận tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSTPHD ngày 04/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Đặng Quốc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Đặng Quốc H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/5/2025). Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân thị trấn TH, huyện M, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng A1, FC số 010126002xxx mang tên Đặng Quốc H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 04/8/2020 tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 11/12/2024, tại đoạn đường dẫn cầu 789 hướng đi huyện S thuộc địa phận phường A, thành phố P, tỉnh Hải Dương, Đặng Quốc H điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 34H- 033.xx kéo theo rơ mooc biển số 34R-029.xx chuyển hướng rẽ phải đi vào đường dẫn, do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã để phần đầu bên phải xe ô tô va chạm vào cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 34AK- 001.xx do bà Phan Thị T điều khiển phía trước bên phải cùng chiều làm bà T và xe mô tô bị ngã đổ ra đường, bà T bị dàn bánh sau bên phải rơ mooc biển số 34R- 029.xx chèn qua. Hậu quả: bà Phan Thị T bị chấn thương sọ não, tử vong tại hiện trường.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi điều khiển xe ô tô tải đầu kéo kéo theo rơ mooc tham gia giao thông đã không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 2 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, hậu quả làm chết 01 người nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường cho gia đình bị hại; đại diện bị hại có đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại khi điều khiển xe mô tô lưu thông từ mép đường phải của quốc lộ 5 theo hướng thành phố Hải Phòng đi thành phố Hà Nội, đi về phía thành phố Hà Nội không chú ý quan sát, đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 23 Điều 9 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024) nên bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị kết án nhưng được coi là không có án tích.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án, tiền sự, có nơi thường trú rõ ràng nên đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo với gia đình bị hại đã thỏa thuận và bồi thường xong các khoản thiệt hại, tổng số tiền là 250.000.000đ, không có yêu cầu dân sự khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết; đồng thời xác định tư cách của ông Trần Minh D1 là người làm chứng trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã trả lại xe ô tô tải đầu kéo biển số 34H- 033.xx, rơ mooc biển số 34R-029.xx cho ông Trần Minh D1; trả xe mô tô biển số 34AK- 001.xx cho gia đình bị hại nên không phải giải quyết. Cần trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe tại phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bà Phan Thị T điều khiển xe mô tô lưu thông từ mép đường phải của quốc lộ 5 theo hướng thành phố Hải Phòng đi thành phố Hà Nội, đi về phía thành phố Hà Nội không chú ý quan sát, đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 23 Điều 9 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024), tuy nhiên bà T đã chết nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/5/2025).
Giao bị cáo Đặng Quốc H cho Ủy ban nhân dân thị trấn TH, huyện M, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
3. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Đặng Quốc H 01 giấy phép lái xe hạng A1, FC số 010126002xxx mang tên Đặng Quốc H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 04/8/2020 tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Quốc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ-CA tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu Tòa, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hoài Thanh |