- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoài Nam - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2025/HS-ST Ngày 17 - 11 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Kiểm.
Ông Nguyễn Thanh Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Trần Hoài N, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ 12C, phường P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Thông (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); vợ: Trần Thị V; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018; tiền sự; tiền án: Không. Tạm giữ ngày 06 tháng 6 năm 2025, tạm giam ngày 15 tháng 6 năm 2025; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 12C, phường P, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
2. Ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1946. Địa chỉ: Địa chỉ: Tổ dân phố Ngái Trì, phường T, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 06/6/2025, Trần Hoài N đang đi trên đường bờ đê thuộc khu vực phường Thanh T, tỉnh Hà Nam (nay là phường C, tỉnh Ninh Bình) có người tên T sử dụng số điện thoại 0966.765.622 gọi đến số điện thoại 0332.524.818 của N nói: "Cho cháu ba trăm", ý T hỏi mua ba trăm nghìn đồng tiền ma túy ngựa của N, N đồng ý và hẹn giao ma tuý cho T ở đường Trần Thị P, phường P, tỉnh Ninh Bình. Sau đó, N đi về nhà tại tổ dân phố H, phường P, tỉnh Ninh Bình lấy trong tủ quần áo của N 10 viên ma tuý ngựa cho vào trong túi nilon màu đen quấn băng dính đen xung quanh và cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, điều khiển xe mô tô BKS 65B1-505.69 mang giao cho T. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi N đi đến đầu cầu Châu Sơn thuộc tổ dân phố H, phường P thì bị lực lượng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) phát hiện, bắt quả tang. Lực lượng Công an đã đưa N cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon quấn băng dính màu đen bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Trần Hoài N, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 14 được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT02. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT03. Số tiền 8.510.000đồng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04. 01 túi xách giả da màu nâu. 01 xe mô tô màu đen, trắng, nhãn hiệu Liberty, BKS 65B1-505.69.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hoài N tại tổ dân phố H, phường P, tỉnh Ninh Bình thu tại ngăn kéo tủ đựng đồ cá nhân kê trong phòng ngủ tầng 2 có 01 túi nilon màu xanh có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong có 36 viên nén hình trụ tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01. Thu trong ngăn tủ quần áo kê trong phòng ngủ tầng 2 có 01 túi giả da màu đen có dây đeo, bên trong có 01 túi nilon màu hồng có kẹp nhựa bên trong có 20 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02.
Tại bản kết luận giám định số 342 ngày 12/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 là ma túy, có khối lượng 0,970g, loại Methamphetamine. Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu KX01 là ma túy, có khối lượng 3,478g, loại Methamphetamine. Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu KX02 là ma túy, có khối lượng 1,914g, loại Methamphetamine.”
Tại công văn số 31 ngày 25/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) xác định: “Trong mẫu vật ký hiệu A1 tìm thấy 1611 mục tin nhắn được thể hiện tại thư mục A1 trong đĩa DVD gửi kèm công văn này. Trong mẫu vật ký hiệu A2 tìm thấy 22 mục nhật ký cuộc gọi, 11 mục tin nhắn được thể hiện tại thư mục”.
Về nguồn gốc số Methamphetamine: Trần Hoài N khai mua của một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực Văn Điển, thành phố Hà Nội qua ứng dụng Zalo. Nam đã mua 80 viên ma túy ngựa với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, Nam xóa toàn bộ cuộc gọi giữa N với người này và không nhớ tài khoản Zalo của B là gì. Ngoài lời khai của N, không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để làm rõ người đàn ông tên B nên không có căn cứ để xử lý.
Cáo trạng số 11/CT-VKS-KV5 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Ninh Bình đã truy tố Trần Hoài N về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hoài N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý". Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Hoài N từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX01”; 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX02”; 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”; 01 túi giả da màu nâu; 01 túi giả da màu đen. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, máy đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo N số tiền 8.510.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO. Trả lại cho chị Trần Thị V 01 xe mô tô BKS 65B1-505.69 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058440. Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhất trí với cáo trạng luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Vân xin được nhận lại chiếc xe mô tô. Không ai tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Trần Hoài N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/6/2025, tại đầu cầu Châu Sơn thuộc tổ dân phố H, phường P, tỉnh Ninh Bình, Trần Hoài N cất giữ trái phép 0,970 gam ma túy, loại Methamphetamine ở túi quần phía trước bên phải, mục đích để bán kiếm lời thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, N còn cất giấu trái phép 5,392 gam ma túy, loại Methamphetamine tại chỗ ở của mình để bán kiếm lời. Tổng số ma tuý thu giữ được là 6,362 gam Methamphetamine. Hành vi đó của bị cáo Trần Hoài N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đi mua ma túy rồi bán lại cho người nghiện ma túy nhằm mục đích kiếm lợi và thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.
Xét về mặt chủ quan bị cáo phạm tội do lỗi cố ý.
Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Từ phân tích trên, cần xử phạt nghiêm bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ tội phạm của bị cáo thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm như đề nghị mức .
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số Methamphetamine: Trần Hoài N khai mua của một người thanh niên tên B ở khu vực Văn Điển, thành phố Hà Nội qua ứng dụng Zalo. Tuy nhiên, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm nhận dạng của người thanh niên này nên cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không có căn cứ để xác minh làm rõ được.
Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì số 342/KTHS, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX01”; 01 phong bì số 342/KTHS, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX02”; 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” là vật cấm tàng trữ lưu hành; 01 túi giả da màu nâu, 01 túi giả da màu đen là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi trong phong bì thư số 31/PC09-KTSĐT, “Mẫu vật A1 hoàn trả” bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 8.510.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trong phong bì thư số 31/PC09-KTSĐ, “Mẫu vật A2 hoàn trả” là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô BKS 65B1-505.69 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058440 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị V, chị V không biết Trần Hoài N sử dụng xe mô tô đi bán ma túy nên trả lại cho chị V là phù hợp với quy định.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên T gọi điện thoại mua ma túy của Trần Hoài N qua số thuê bao 0966.765.622 nhưng không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này. Kết quả xác minh xác định chủ số thuê bao 0966.765.622 mang tên ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1946, trú tại tổ dân phố N, phường T, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định ông Đ không đăng ký và không sử dụng số thuê bao này nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Đ theo quy định của pháp luật.
Sau khi bị bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Trần Hoài N, kết quả dương tính với ma túy. Nam khai nhận ngày 04/6/2025 đã sử dụng trái phép chất ma túy tại bờ kè tổ dân phố Hồng Phú, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên N không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a BLHS nên hành vi của N không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Hoài Nam.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoài N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 6 năm 2025.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX01”; 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KX02”; 01 phong bì số 342/KTHS mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”; 01 túi giả da màu nâu, 01 túi giả da màu đen. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note trong phong bì thư số 31/PC09-KTSĐT, “Mẫu vật A1 hoàn trả”. Trả lại cho bị cáo N số tiền 8.510.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trong phong bì thư số 31/PC09-KTSĐ, “Mẫu vật A2 hoàn trả”. Trả lại cho chị Trần Thị V 01 xe mô tô nhãn hiệu Libety BKS 65B1-505.69, số máy M739M*5011505*, số khung XRB8M73401EV110764* và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058440. (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 16/10/2025; ủy nhiệm chi ngày 17/10/2025).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hoài Nam phải chịu 200.000đồng.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Trại giam số 2-CA tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5-Ninh Bình; - Phòng HSNV CA tỉnh Ninh Bình; - THA dân sự tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; Người có quyền NVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |