- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẶNG A C -TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 06- 03 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Lò Văn Viễn
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 03 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phặng A C, sinh năm 1990, tại Sông Mã, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Phặng A D (đã chết) và bà Giàng Thị C bị cáo có vợ là Giàng Thị R và 06 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tốt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2023 cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hàng Thị Kh, sinh năm 1998; nơi cư trú: Bản Huổi Dấng, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút ngày 29/11/2023 tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La, Công an huyện Sông Mã và Công an xã Mường S làm nhiệm vụ phòng chống tội Phm tại khu vực bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã phát hiện Phặng A C, sinh năm 1990 trú tại bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26C1-105.34 đi từ hướng biên giới về bản Nong Ph, xã Mường S có nhiều biển hiện nghi vấn Phm tội về ma túy, tổ công tác đã ra tín hiệu yêu cầu kiểm tra; Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo bên trái đang mặc c a C có 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 06 viên nén màu hồng (C khai nhận đó là H ng phi n) mục đích mua về sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người Phm tội quả tang thu giữ niêm phong tang vật, tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 26C1-105.34 đã qua sử dụng.
Ngày 30/11/2023 tại Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: 06 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,57 gam đã trích 03 viên có khối lượng 0,28 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu từ C, vật chứng còn lại 03 viên có khối lượng 0,29 gam lưu kho ký hiệu C1.
Kết luận giám định số 2572/KL-KTHS ngày 30/11/2023 c a Phòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “M u ký hi u C g i giám đ nh là ma túy, loại Methamphetamine. Kh i lượng của m u g i giám đ nh là 0,28 gam. T ng kh i lượng ma túy thu gi là 0,57 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo Phặng A C khai nhận hành vi Phm tội như sau: Phặng A C sử dụng ma túy từ năm 2023. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26C1-105.34 từ nhà ở bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã lên khu vực đường tuần tra biên giới Việt Nam - Lào mục đích tìm mua Hồng phiến về sử dụng, khi đi C mang theo 120.000 đồng do lao động tiết kiệm mà có. Đến khu vực cột mốc 214, C gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết h i mua 120.000 đồng Hồng phiến thì được người đàn ông đồng ý nhận tiền và lấy từ trong túi quần đang mặc ra đưa cho C 06 viên Hồng phiến. C nhận lấy Hồng phiến rồi nhặt một mảnh nilon màu xanh gói 06 viên Hồng phiến làm một gói cất giấu vào túi áo khoác đang mặc, sau đó điều khiển xe đi về. Đến 20 giờ c ng ngày, C về đến khu vực đường mòn thuộc bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu Chiềng Khương phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La, Công an xã Mường S, Công an huyện Sông Mã làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ phương tiện.
Cáo trạng số 33/CT-VKSSM ngày 05 tháng 02 năm 2024 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Phặng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phặng A C đã khai nhận hành vi Phạm tội c a mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử
Tuyên bố bị cáo Phặng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự.
Xử Pht bị cáo Phặng A C từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là Pht tiền đối với bị cáo.
Vật chứng c a vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị:
- Tịch thu để tiêu h y 0,29 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh.
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hàng Thị Kh 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave alpha, màu sơn xám đen bạc, BKS 26C1-105.34, số khung: 480208, số máy: 5479777.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Phặng A C không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội c a Kiểm sát viên, khi được nói lời sau c ng, bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình Pht.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hàng Thị Kh đề nghị HĐXX xem xét xin được trả lại chiếc xe mô tô.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đ và toàn diện chứng cứ, ý kiến c a Kiểm sát viên, lời khai c a bị cáo, ý kiến c a người liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định c a cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai c a bị cáo tại phiên toà ph hợp với lời khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người Phm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và ph hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 29/11/2023 bị cáo Phặng A C đã có hành vi tàng trữ 0,57 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung c a vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội c a c a Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử Pht t giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là ph hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Phặng A C thực hiện đã Phm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội Phm và hình Pht được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình Pht t từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi Phm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy c a mình là vi Phm điều cấm c a pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi Phm chế độ độc quyền quản lý c a Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình Pht chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi Phm tội c a bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân c a bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình Pht t giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội Phm.
Về hình Pht bổ sung là Pht tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình Pht bổ sung là Pht tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Thái, không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo ơtại khu vực đường biên giới thuộc địa phận bản Nong Ph, xã Mường S, huyện Sông Mã vào ngày 29/11/2023. Do không xác định được họ tên đầy đ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,29 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu h y.
- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn bạc, BKS 26C1-105.34, số khung: RLHHC1213DY480208, số máy: HC12E-5479777 và 01 chìa khóa thu giữ c a bị cáo Phặng A C. Quá trình điều tra xác định xe có đăng ký mang tên Hàng Thị Kh, sinh năm 1998, địa chỉ bản Co Tòng (nay bản Huổi Dấng), xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã (thông gia với gia đình bị cáo C). Kết quả tra cứu dữ liệu vật chứng xe, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng c a vụ án khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hàng Thị Kh (có quan hệ thông gia với gia đình bị cáo C) trình bày: Chiếc xe mô tô nêu trên là tài sản c a chị. Ngày 29/11/2023 có cho Phặng A C mượn đi có việc và C đã sử dụng chiếc mô tô và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị không biết. Chị Hàng Thị Kh đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô, nên HĐXX cần chấp nhận và trả lại 01 chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho chị Hàng Thị Kh.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Phặng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử Pht bị cáo Phặng A C 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình Phạt t tính từ ngày 29/11/2023.
- Không áp dụng hình Pht bổ sung là Pht tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu h y 0,29 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh;
(các vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Bưu đi n Vi t Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã s 0022329).
Theo Quy t đ nh chuyển vật chứng s : 38/QĐ-VKS ngày 05/02/2024 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Sông Mã và Biên bản về vi c giao nhận vật chứng, tài sản lập h i 14 giờ 15 phút ngày 07 tháng 02 năm 2024 gi a Công an huy n Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huy n Sông Mã.
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hàng Thị Kh 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn bạc, BKS 26C1-105.34, số khung: RLHHC1213DY480208, số máy: HC12E-5479777.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Phặng A C được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/03/2024).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS huyện Sông Mã; - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - THAHS; - CCTHADS huyện Sông Mã; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |