vanban.org

Bản án 82/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 11/10/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 0,454g ma túy loại Methamphetamine (là mẫu vật hoàn lại sa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Linh - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày: 31/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác

Các Hội thẩm nhân dân: Ồng Lê Việt Long

Ông Nguyễn Văn Tuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà- Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 02/2024/TB-TA, ngày 31/12/20124 đối với bị cáo:

Phùng Văn L, sinh năm 1991. Tên gọi khác: Không. Nơi cƣ trú: Thôn Quan L, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Phùng Văn M và bà Phạm Thị L.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 07/7/2021 bị TAND huyện Tứ Kỳ áp dụng biện pháp xử lý Hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời hạn 15 tháng) Chấp hành xong ngày 11/10/2022.

Bị tạm giam từ ngày 11/10/2024 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay. (Có mặt).

- Người chứng kiến: Anh Đoàn Thiện H, sinh năm 1991 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phùng Văn L là ngƣời nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, Linh đến khu vực chân cầu Tiên Cựu thuộc huyện An Lão, thành phố Hải Phòng mua của một ngƣời đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu tím hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua đƣợc ma túy, Linh mang về nhà cất giấu. Tối ngày 07/10/2024, Linh dùng kéo cắt đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đổ hết ma túy vào bầu coóng thủy tinh, dùng bật lửa hơ nóng bầu coóng để hít khói ma túy vào cơ thể. Linh hít 02 lần thì không sử dụng nữa và cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong bầu coóng vẫn còn chứa ma túy vào trong tủ quần áo, mục đích để lần sau sử dụng tiếp. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 08/10/2024, tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an xã Tiên Động đến nhà Phùng Văn L Để làm xét nghiệm chất ma túy đối với Linh, quá trình làm việc Linh tự nguyện khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân và giao nộp 01 vỏ chai nhựa gắn mác “Number 1” có nắp xoáy màu vàng đƣợc đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu tím nối với ống hút màu vàng dài 22 cm, lỗ còn lại gắn coóng thủy tinh màu trắng, hình chữ “U” kích thƣớc 12 cm, một đầu đƣợc nối với ống hút màu tím dài 6,5 cm, đầu còn lại của ống thủy tinh là bầu coóng bên trong bầu coóng còn bám dính chất rắn màu trắng đục, bên trong chai có nƣớc. Ngay sau đó, tổ công tác của Công an huyện Tứ Kỳ lập biên bản vụ việc.

Tại Kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng đục, trong bầu coong thuỷ tinh, đƣợc niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lƣợng là 0,501g (Không phẩy năm trăm linh một gam) là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKS-TK, ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phùng Văn L ra trƣớc tòa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép ma túy”, xử phạt bị cáo Phùng Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/10/2024. Bị cáo phạm tội phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản làm việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 08/10/2024 tại thôn Quan Lộc, xã Tiên Động, Phùng Văn L có hành vi cất giấu trái phép 0,501g ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện thu giữ cùng vật chứng.

Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Số ma túy bị cáo tàng trữ là 0,501 gam ma tuý loại Methamphetamine nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhƣng có nhân thân xấu, đã bị đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú hành vi phạm tội của mình nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song vẫn cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thƣ, phía trên ghi số 426/KL-KTHS của Công an tỉnh Hải Dƣơng - Bộ công an, bên trong có 0,454g ma túy loại Methamphetamine (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 coóng thủy tinh hình chữ U và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ chai nhựa gắn nhãn mác “Number 1”, có nắp xoáy màu vàng đƣợc đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu tím nối với ống hút màu vàng dài 22 cm; 01 ống hút màu tím dài 6,5 cm; 01 hộp hình chữ nhật, màu xám, có kích thƣớc (16x6x3)cm; 01 chiếc kéo kim loại dài 12cm, có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 đoạn ống hút kích thƣớc (2,4x1)cm bằng nhựa màu tím phần giữa có sọc kẻ trắng, một đầu bịt kín, một đầu hở đƣợc cắt chéo; 01 mảnh nhựa có kích thƣớc (1x0,3)cm, màu tím phần giữa có sọc kẻ trắng (là công cụ bị cáo thực hiện việc sử dụng ma tuý) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với ngƣời bán ma túy cho Phùng Văn L, quá trình điều tra không làm rõ đƣợc, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Linh tối 07/10/2024, Công an huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 11/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 0,454g ma túy loại Methamphetamine (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 coóng thủy tinh hình chữ U và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ chai nhựa gắn nhãn mác “Number 1”, có nắp xoáy màu vàng đƣợc đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu tím nối với ống hút màu vàng dài 22 cm; 01 ống hút màu tím dài 6,5 cm; 01 hộp hình chữ nhật, màu xám, có kích thƣớc (16x6x3)cm; 01 chiếc kéo kim loại dài 12cm, có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 đoạn ống hút kích thƣớc (2,4x1)cm bằng nhựa màu tím phần giữa có sọc kẻ trắng, một đầu bịt kín, một đầu hở đƣợc cắt chéo; 01 mảnh nhựa có kích thƣớc (1x0,3)cm, màu tím phần giữa có sọc kẻ trắng (là công cụ bị cáo thực hiện việc sử dụng ma tuý).

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 20/11/2024).

3. Về án phí: Bị cáo Phùng Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ