vanban.org

Bản án 82/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 17/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thế A 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày Tòa tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Thế A: "Vi phạm quy định về tham gia phương tiện giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS - ST
Ngày: 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Hoàng Văn Long

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa:

Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thanh Trì, TP Hà Nội

Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST - HS ngày 12/4/2024, đối với bị cáo:

Trịnh Thế A, sinh năm 2000; HKTT + Chỗ ở: Thôn M, xã Đ, huyện Ứ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn P và bà Đặng Thị H; Tiền án, tiền sự: không (Danh chỉ bản số 16 do Công an Thanh Trì lập ngày 04/01/2024); Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Bà Cao Thị B - Sinh năm 1948 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của người bị hại:

+ Chị Giang Thị H – Sinh năm 1974 (con gái bà B)

+ Chị Giang Thị V - Sinh năm 1976 (con gái bà B)

+ Anh Giang Nguyên C – Sinh năm 1982 (con trai bà B)

+ Anh Giang Văn D – Sinh năm 1984 (con trai bà Bình)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của Chị H, chị V và anh D: Anh Giang Nguyên C (văn bản ủy quyền ngày 19/9/2023) – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h30 ngày 10/9/2023, Trịnh Thế A (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 29Yx - 769.xx đi chuyển trên đường 25 m thuộc xã T hướng từ trường tiểu học T, huyện Thanh Trì, Hà Nội đến Ủy ban nhân dân xã T. Thế A điều khiển xe đi phần đường bên phải, cách mép đường bên phải khoảng 3m, di chuyển với tốc độ khoảng 40km/h. Khi đi đến trước Gara ô tô Đ, T nhìn thấy 01 chiếc xe ô tô gầm cao dạng 5-7 chỗ đang đỗ bên tay phải lề đường, cách xe của Thế A khoảng 11m, Thế A quay mặt lại nhìn về phía sau quan sát và tiếp tục cho xe di chuyển thẳng phía trước. Khi xe Thế A đi ngang cửa kính trước của xe ô tô thì phát hiện bà Cao Thị B điều khiển xe đạp đi sang đường hướng từ bên phải sang bên trái, cách Thế A khoảng 3m. Thế A tiếp tục di chuyển về trước đồng thời đánh tay lái sang bên trái để tránh, nhưng bàn để chân phía trước xe môtô va chạm với bên trái bánh trước xe đạp của bà B khiến cả 2 ngã ra đường. Thế A đứng dậy thì phát hiện bà B bất tỉnh nên nhờ người dân đưa bà B đi cấp cứu tại Bệnh viện quân y 103 rồi đi đến cơ quan công an để trình báo sự việc. Ngày 13/9/2023, bà B tử vong tại nhà.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ của Trịnh Thế A: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh bạc, biển kiểm soát 29Yx-769.xx; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh bạc, biển kiểm soát 29Yx-769.xx; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô biển kiểm soát 29Yx-769.xx; Tạm giữ của bà Cao Thị B 01 chiếc xe đạp.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/9/2023 của Công an huyện Thanh Trì thể hiện:

“Hiện trạng đoạn đường nơi xảy ra vụ việc:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường 25m thuộc xã T, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đường hai chiều dải nhựa bằng phẳng, không có vạch sơn chia hai chiều đường. Lòng đường rộng 14,4 m.

- Điểm mốc nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là cột điện 05/481E1.26/N T 29 thuộc T, Thanh Trì, Hà Nội

- Mép đường chuẩn là mép đường bên phải đường 25m theo hướng T - N.

Các vị trí ghi nhận tại hiện trường gồm:

1. Xe mô tô BKS 29Yx-769.xx đổ nghiêng sang trái; đầu xe hướng T, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 5,9m; đuôi xe hướng đường N, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn được 6,3m, đồng thời cách tâm trục bánh trước xe đạp là 0,2m.

2. Xe đạp đổ nghiêng sang trái, đầu xe hướng đường N, nằm trên thân xe mô tô BKS 29Yx-769.xx. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 6,2m, đuôi xe hướng đường T, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau xe vào mép đường chuẩn được 6,4m.

3. Vết cầy dài 3m; đầu vết cầy hướng T cách mép đường chuẩn 6,4m, đồng thời cách tâm đám máu KT(1x0,5)m là 1,4m, cuối vết cày trùng với càng trước bên trái xe mô tô BKS 29Yx-769.xx.

4. Đám máu KT(1x0,5)m. Tâm đám máu cách mép đường chuẩn 6,5m, đồng thời cách điểm mốc 5,9m.”

Ngày 26/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì chủ trì tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Quá trình dựng lại hiện trường xác định: Trịnh Thế A điều khiển xe mô tô BKS 29Yx-769.xx di chuyển trên đường 25m theo hướng T đi N, khi di chuyển thì phát hiện phía trước cùng chiều có xe ôtô dạng xe 5-7 chỗ gầm cao đỗ sát mép đường bên phải theo hướng di chuyển. Khi cách đuôi xe ô tô khoảng 11m thì Thế A quay mặt nhìn phía sau bên trái xe xem có phương tiện nào khác đang tới hay không, rồi quay mặt lại phía trước thì phát hiện trước đầu xe là xe đạp do bà Cao Thị B đang điều khiển sang đường, bánh trước xe của bà B cách xe của Thế A 7,5m. Do khoảng cách gần và bất ngờ nên Thế A chỉ kịp bóp phanh và đánh lái sang bên trái để tránh nhưng khu vực đầu xe bên phải do Thế A điều khiển vẫn va chạm vào khu vực bánh trước bên trái xe đạp của bà B khiến bà B ngã ra đường.

Tại bản kết luận giám định số 7436/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

“- Dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết để lại trên xe môtô biển số 29Yx-769.xx và xe đạp:

+ Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài phía trước bàn đạp phanh chân bên phải xe môtô biển số 29Yx-769.xx có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng kim loại ở mặt ngoài vành bánh trước xe. Dấu vết va chạm ở xe đạp nêu trên tại vị trí này có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe.

- Dấu vết đỗ trên xe môtô biển số 29Yx-769.xx:

Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu tay lái bên trái có chiều từ ngoài vào tâm trục tay lái và dấu vết trượt xước ở mặt ngoài ốp nhựa đầu xe, chân gương chiều hậu, yếm chắn gió, đầu bàn để chân trước, tay nâng phía sau bên trái xe có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe môtô biển số 29Yx-769.xx đồ nằm nghiêng bên trái và trượt trên mặt đường.

- Dấu vết đổ trên xe đạp:

Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu bàn đạp bên trái xe có chiều từ ngoài vào tâm trục bàn đạp và dấu vết trượt xước ở mặt ngoài bên trái giỏ đèo hàng trước, bên trái giá đèo hàng sau xe có chiêu từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe đạp đồ nằm nghiêng bên trái và trượt trên mặt đường.

- Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe môtô biển số 29Yx-769.xx và xe đạp.

Không xác định được tốc độ của xe môtô biển số 29Yx-769.xx và xe đạp trước khi xảy ra va chạm.”.

Tại bản Kết luận giám định số 82/73/KLTTHS-TTPY ngày 14/12/2023 kết luận:

“Căn cứ bản Sao y Bệnh án ngoại khoa mã bệnh nhân 23192203 của Bệnh viện Quân y 103 - Học viện Quân y, thành phố Hà Nội nhận định nạn nhân Cao Thị B, sinh năm 1948 nhiều khả năng tử vong do: Chấn thương sọ não nặng (Dập não xuất huyết rải rác hai bán cầu, tiểu não trái. Hình ảnh xuất huyết dưới nhện hai bên bán cầu. Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng vùng bán cầu não phải, liềm đại não. Vỡ xương thái dương đỉnh trái.”

Kiểm tra nồng độ cồn đối với Trịnh Thế A: kết quả 0,000 mg/l khí thở.

Tại Cơ quan điều tra:

- Trịnh Thế A khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Khi xảy ra tai nạn, Thế A chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh bạc, biển kiểm soát 29Yx-769.xx; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đều mang tên Trịnh Thế A và chiếc xe đạp tạm giữ của bà Cao Thị B, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả những tài sản trên cho chủ sở hữu tài sản.

- Về bồi thường dân sự: Trịnh Thế A đã tự nguyện bồi thường số tiền 80.000.000 đồng, gia đình bà Cao Thị B đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu khác về dân sự.

Bản cáo trạng số 66/CT - VKSTT ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Trịnh Thế A về tội “Vi phạm quy định về tham gia phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Trịnh Thế A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo xác nhận bị cáo có lỗi thiếu chú ý quan sát các phương tiện di chuyển phía trước nên đã dẫn đến va chạm giao thông làm bà B bị thương và tử vong sau đó. Bị cáo điều khiển xe mô tô khi chưa có giấy phép lái xe. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Anh Giang Nguyên C (đại diện hợp pháp của người bị hại) xác nhận sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo đã tích cực cấp cứu người bị hại và tự nguyện bồi thường số tiền 80.000.000đồng cho gia đình. Anh C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và được cải tạo ngoài xã hội.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án.

- Phần dân sự: không phải xét do các bên đã tự thỏa thuận xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án – đủ cơ sở xác định: Khoảng 15h30 ngày 10/9/2023, tại khu vực đường 25m thuộc xã T, Thanh Trì, Hà Nội, Trịnh Thế A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 29Yx - 769.xx khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định đã không chú ý quan sát các phương tiện di chuyển phía trước - vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe đạp do bà Cao Thị B điều khiển làm bà B bị thương và tử vong sau đó. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Người bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông đi từ đường nhánh ra đường chính nhưng không quan sát và không nhường đường cho xe đi đến từ đường chính vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do lỗi hỗn hợp, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 1999: «Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm» . Xét hành vi phạm tội của bị cáo không liên quan đến nghề nghiệp lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

- Về dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại 80.000.000đồng, gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng:

+ Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh bạc, biển kiểm soát 29Yx-769.xx; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đều mang tên Trịnh Thế A, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả những tài sản trên cho bị cáo. Bị cáo đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với chiếc xe đạp quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bà B, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả chiếc xe trên cho gia đình bà B. Gia đình bà B đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại được kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2. Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thế A 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày Tòa tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

3. Về dân sự, vật chứng: Không xét.

4. Về án phí: Căn cứ các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo : Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ