- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn Thuỷ và Lý Văn Thuyết phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn Th và Tô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 09/04/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thùy Phương và Ông Nguyễn Thế Sách;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai trực tuyến tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh và Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 15/03/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 29/03/2024 đối với bị cáo:
1. Tô Văn T, sinh năm 1993;
HKTT: Xóm Thiêng Lầu, xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Bố đẻ Hoa Văn Ngâm (Đã chết) và mẹ đẻ Tô Thị Ngấm; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 192 ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2020, chấp hành xong án phí ngày 18/5/2020; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh
- có mặt.
2. Lý Văn Th, sinh năm 1991;
HKTT: Thôn Nà Cà, xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Bố đẻ Lý Văn Đoàn và mẹ đẻ Trương Thị Nhân; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn Th và Tô Văn T: Bà Đặng Thị Hương – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh – có mặt;
Những người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Kim Sơn - Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh – có mặt;
2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Văn Th và Tô Văn T là bạn quen biết xã hội và là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 21/12/2023, Th và Thủy đang ở nhà trọ của Th tại khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thì Thủy rủ Th đi mua ma túy về cùng sử dụng, Th đồng ý. Sau đó, Th sử dụng điện thoại Nokia đen trắng gọi điện thoại cho một người đàn ông (Th chỉ biết tên là Thi do bạn quen biết xã hội cho số điện thoại) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy heroin. Người đàn ông đó hẹn Th đến khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu. Sau đó, Th và T đi xe mô tô Honda Airblade BKS 97B1 -968.53 đến quán nước gần khu vực đình làng Giang Liễu ngồi đợi. Tại đây, T đưa cho Th số tiền 500.000 đồng để mua ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, người đàn ông tên Thi gọi điện lại bảo Th đi vào đình làng Giang Liễu để lấy ma túy. Th và T đi xe mô tô vào trước cửa đình làng Giang Liễu thì gặp Thi. Lúc này, Th đứng ở xe đợi còn Th theo Thi đi bộ vào một ngõ nhỏ cách đó khoảng 100m. Tại đây, Th đưa cho Thi 500.000 đồng, Thi cầm tiền rồi đưa lại cho Th 01 vỏ bao thuốc Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng. Biết là ma túy nên Th cầm tại lòng bàn tay phải và đi bộ ra chỗ T đứng đợi. Khi đi đến cách chỗ T đứng khoảng 5 mét thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do sợ hãi nên Th đã vứt vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng có chứa ma túy, cách chân Th đứng khoảng 1,5m. Sau đó, Th đã tự nguyện nhặt lên và giao nộp cho lực lượng Công an. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định, dưới sự chứng kiến của Tô Văn T, anh Từ Quang Chung, sinh năm 1998 ở thôn Đồng Mây, xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và chị Quàng Thị Trọng, sinh năm 2003 ở bản Xôm, xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Tại đây, Tô Văn T thừa nhận số ma túy trên do T rủ và đưa tiền cho Th đi mua.
Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Th 01 điện thoại di động Redmi màu xanh và 01 điện thoại di động Realmi màu trắng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Honda Airblade màu đen BKS 97B1-968.53; 01 ví da và số tiền 100.000 đồng. Quá trình điều tra xác định 02 điện thoại di động và xe máy nêu trên là tài sản của ông Lý Văn Đoàn, sinh năm 1966 (là bố đẻ của Th) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ đã trả lại ông Đoàn quản lý và sử dụng. Đối với 01 điện thoại di động nokia đen trắng Th sử dụng để liên lạc với người đàn ông tên Thi để mua ma túy, trên đường đi mua ma túy Th đã làm rơi mất, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu được.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ, tại Kết luận giám định số 124/KLGĐ-PC09 ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong một phong bì gửi giám định có khối lượng là 0,3022 gam, là ma túy; Loại ma túy: Heroine; Heroin có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghi định 57/2022 ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ, Lý Văn Th và Tô Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSQV ngày 15/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Tô Văn T và Lý Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Văn T và Lý Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận, cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Tô Văn T và Lý Văn Th đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Tô Văn T và Lý Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, (khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Th), Điều 38, Điều 47, Điều 17, Điều 58 BLHS; Điều 106 BLTTHS, xử phạt bị cáo Tô Văn T từ 16 tháng đến 20 tháng và bị cáo Lý Văn Th từ 12 tháng đến 16 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là mẫu vật còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo Th 01 ví da màu đen và số tiền 100.000 đồng. Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến: Nhất trí với quan điểm của đại diện VKS về tội danh và việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tuy nhiên, do các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy dẫn đến sự nhận thức về pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội và miễn án phí cho các bị cáo.
Đại diện VKS tham gia đối đáp với ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Đối với tội danh và án phí do người bào chữa cũng cùng quan điểm nên đại diện VKS không có ý kiến. Mức hình phạt VKS đề nghị là tương ứng với tính chất và mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra, viện kiểm sát, kiểm sát viên đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không bị khiếu nại nên xác định hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hồi 14 giờ 45 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực cổng đình khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường Phương Liễu bắt quả tang Lý Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép 0,3022 gam ma túy Heroin. Số ma túy trên là do Tô Văn T rủ và đưa tiền để cùng Th đi mua ma túy, mục đích để sử dụng chung. Do vậy, hành vi của các bị cáo Lý Văn Th và Tô Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không đơn thuần chỉ là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, làm băng hoại đạo đức con người, suy giảm giống nòi. Các bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng ma tuý, biết rõ tác hại của ma tuý và biết rõ việc sử dụng ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình phạm tội, chứng tỏ các bị cáo rất coi thường sự trừng trị của pháp luật nên cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, phân nhiệm vụ cụ thể nhưng bị cáo T là người khởi sướng, đưa tiền cho Th đi mua ma tuý nên có vai trò cao hơn, còn bị cáo Th là người liên hệ và mua ma tuý nên có vai trò thấp hơn.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Th lần đầu phạm tội, bị cáo Tô Văn T có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối hận về hành vi của mình nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo Lý Văn Th có ông nội được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, khi lượng hình cần phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo T cáo hơn bị cáo Th và cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ở vùng kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông tên Thi đã bán ma túy cho Th, Th không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh để xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng P09 Công an tỉnh Bắc Ninh do là chất cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ. 01 ví da màu đen và số tiền 100.000 đồng của Th không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo Th.
Đối với 01 điện thoại di động Redmi màu xanh, 01 điện thoại di động Realmi màu trắng và 01 xe mô tô Honda Airblade màu đen BKS 97B1-968.53, quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định là tài sản của ông Lý Văn Đoàn, sinh năm 1966 (là bố đẻ của Lý Văn Th) nên cơ quan điều tra đã trả lại ông Đoàn quản lý và sử dụng là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nokia đen trắng Th sử dụng để liên lạc với người đàn ông tên Thi để mua ma túy, trên đường đi mua ma túy Th đã làm rơi mất, hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh để xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Do các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn Th và Tô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Tô Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt: Bị cáo Lý Văn Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng P09 Công an tỉnh Bắc Ninh do là chất cấm. Trả lại cho bị cáo Th 01 ví da màu đen và số tiền 100.000 đồng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 14/03/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ) và Biên lai thu tiền số 1515 ngày 14/3/2024 của Chi cục THSDS thị xã Quế Võ.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí HSST cho các bị cáo Lý Văn Th và Tô Văn T.
5. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA, Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Các bị cáo; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hoài Phương |