vanban.org

Bản án 82/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Trung H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2024. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Trung H - Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày 29/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Trung H, sinh ngày 02/7/1983 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Số nhà C, Quốc lộ A, khu phố D, ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Q, sinh năm 1953 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1955; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1989; bị cáo có 03 người con, lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo Mai Trung H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 21/02/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Mai Trường S, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Số A, đường D, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

2. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố E, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Thanh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ 15 phút ngày 21/02/2024, Mai Trung H sử dụng điện thoại có số thuê bao 0352.098.432 gọi vào số thuê bao 0359.456.174 của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch để hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì người đàn ông này đồng ý và hẹn H ra cầu vượt đường mòn H2 tại thị xã C, tỉnh Bình Phước nhận ma túy. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô biển số 59P1-373.70 đi từ khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương đến điểm hẹn. Khi đến nơi, H đứng chờ khoảng 05 phút thấy có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến và đứng cách H 03 mét chỉ cho H biết ma túy được để trong một khẩu trang ở lề đường rồi bỏ đi. Lúc này, H thấy có 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng được quấn tròn lại bên trong có bịch ma túy, H dùng chân kẹp ma túy đựng trong khẩu trang vào ngón chân phải rồi điều khiển xe mô tô biển số 59P1-373.70 đi về, khi H đi đến đoạn đường ĐT750 thuộc ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương lúc này khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã T đang tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra, H sợ bị phát hiện, H dùng chân đá ma túy được quấn trong khẩu trang y tế đang kẹp ở ngón chân ra lề đường thì bị Công an phát hiện bắt quả tang đưa về trụ sở để làm việc. Công an xã T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P điều tra theo thẩm quyền. Qua điều tra, H thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1023/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 262/QĐ ngày 22/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Mai Trung H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (Bên giao mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus; 01 (một) xe mô tô biển số 59P1-373.70, nhãn hiệu SanDa Vmep.

Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSPG ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Mai Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Trung H từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;

- Về hình phạt bổ sung: Không;

- Về xử lý vật chứng đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1023/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 262/QĐ ngày 22/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Mai Trung H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (Bên giao mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 0,1528 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1126 gam (theo Kết luận giám định số 1023/KH-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhăn hiệu Iphone 7 Plus (model A1661 FCC ID: BCG - E3087A: 579C - E87A, điện thoại bị nứt màn hình); 01 (một) xe mô tô biển số 59P1-373.70, nhãn hiệu SanDa Vmep (số máy: VMSB8 - H040773, số khung: RLCSB10AHBH040773, xe thiếu 01 kính chiếu hậu, xe không bửng)

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Trường S trình bày: Ông mua lại xe mô tô tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ (không rõ địa chỉ cụ thể) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ông cho bị cáo H mượn làm phương tiện đi lại, ông không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Hiện tại, các giấy tờ liên quan đến xe mô tô biển số 59P1-373.70, nhãn hiệu SanDa Vmep bị cháy. Việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, ông không có ý kiến gì. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải mong muốn được xét xử nhẹ để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. HĐXX xét thấy, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L và người làm chứng Lê Thanh C đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã lấy lời khai bà Phạm Thị L và ông Lê Thanh C, việc vắng mặt bà L và ông C không trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Trung H khai nhận: Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 21/02/2024, tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Mai Trung H có hành vi cất giấu 0,1528 gam, loại Methamphetamine được quấn trong khẩu trang y tế và bị cáo kẹp trong ngón chân phải nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang. Ma tuý do bị cáo Mai Trung H mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại cầu vượt đường mòn H2 tại thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Theo Kết luận giám định số 1023/KH-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1528 gam. H1 lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1126 gam. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Mai Trung H đã tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1528 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng số 79/CT-VKSPG ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Mai Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng với diễn biến sự việc, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành. Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại vì nó không những gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn làm lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Trung H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo Mai Trung H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt đối với bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật và Nhà nước mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1023/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 262/QĐ ngày 22/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Mai Trung H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (Bên giao mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 0,1528 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1126 gam. HĐXX xét thấy, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy

01 (một) khẩu trang y tế màu trắng. HĐXX xét thấy, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus. HĐXX xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

01 (một) xe mô tô biển số 59P1-373.70, nhãn hiệu SanDa Vmep. Xe mô tô do công ty TNHH C1 đứng tên chủ sở hữu. Ông Mai Trường S mua lại xe mô tô tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ (không rõ địa chỉ cụ thể) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ông S cho bị can H mượn làm phương tiện đi lại, ông S không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xe mô tô trên không có giấy tờ hợp lệ, không làm việc được với chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã đăng báo ba số liên tiếp vào các ngày 29/4/2024, 30/4/2024, 01/5/2024. HĐXX xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không rõ nguồn gốc chủ sở hữu nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các tình tiết khác đối với bị cáo cũng như về xử lý các vật chứng là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được HĐXX xem xét chấp nhận.

Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy cho bị cáo Mai Trung H tại cầu vượt đường mòn H2 tại thị xã C, tỉnh Bình Phước hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Đối với ông Mai Trường S không biết bị cáo H sử dụng xe mô tô biển số 59P1-373.70 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý.

Đối với số thuê bao di động số 0359456174 qua tra cứu số thuê bao trên do bà Phạm Thị L, sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ B, khu phố E, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước đăng ký sở hữu. Tuy nhiên, qua làm việc với bà L, bà L không quen biết và liên lạc gì với bị cáo H và không sử dụng số thuê bao trên, nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 292, 293, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Trung H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2024.

3. Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1023/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 262/QĐ ngày 22/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Mai Trung H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (Bên giao mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 0,1528 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1126 gam (theo Kết luận giám định số 1023/KH-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus (model A1661 FCC ID: BCG - E3087A: 579C - E87A, điện thoại bị nứt màn hình); 01 (một) xe mô tô biển số 59P1-373.70, nhãn hiệu SanDa Vmep (số máy: VMSB8 - H040773, số khung: RLCSB10AHBH040773, xe thiếu 01 kính chiếu hậu, xe không bửng).

(Thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo)

4. Về án phí: Buộc bị cáo Mai Trung H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ