vanban.org

Bản án 82/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H, Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI -TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HSST
Ngày 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Hiền và ông Trần Thanh Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thái Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Triệu Ngọc Thơ, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1975, tại tỉnh Yên Bái; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ 01, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/10, nghề nghiệp: Không; họ và tên bố: Nguyễn Văn T, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T (đều đã chết); chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị K và có 01 con sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: 01, Bản án hình sự phúc thẩm số 05/2018/HS-PT ngày 06/02/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (bị cáo chấp hành xong ngày 24/9/2022). Nhân thân: Năm 1997 bị Toà án nhân dân thị xã Yên Bái (nay là Toà án nhân dân thành phố Yên Bái) xử phạt 09 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Yên Bái. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Phạm Xuân N, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ 5, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 16/7/2023, Nguyễn Ngọc H đến khu vực đường bờ kè Sông Hồng sau chợ ga Yên Bái thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, H đã gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ mua 01 gói ma tuý hết số tiền 500.000 đồng. Sau đó, H chia nhỏ thành hai gói rồi cất vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long và đi tìm chỗ để sử dụng. Khi H đi đến khu vực ngã tư đỉnh dốc Bò Đái, thuộc tổ 05, phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái thì bị Công an thành phố Yên Bái phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái H đang mặc một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 02 gói chất bột nén màu trắng, nghi là ma túy đều được gói trong mảnh giấy bạc màu trắng. H khai nhận là ma tuý vừa mua được, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số: 431/KL-KTHS, ngày 22/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

- Chất bột nén màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc H có tổng khối lượng là 0,11 gam.

- 0,06 gam trích từ 0,11 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại heroine.

Bản cáo trạng số: 78/CT-VKS-TP ngày 07/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc H thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 16 tháng 7 năm 2023, tại khu vực ngã tư dốc Bò Đái thuộc tổ 5, phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái, Nguyễn Ngọc Hoà đang có hành vi tàng trữ 0,11 gam ma tuý, loại heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Yên Bái phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam ma túy, loại herôine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy làm huỷ hoại sức khoẻ con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tệ nạn về ma tuý cũng như các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Năm 2018 bị cáo đã bị xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó, cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng người tội phạm nói chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy H khai mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực sau chợ Ga Yên Bái thuộc phường H, thành phố Y, quá trình điều tra Hoà không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, do đó không đủ căn cứ để xử lý.

Về vật chứng của vụ án: 0,05 gam ma túy được niêm phong trong 01 phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành (sau khi trích mẫu giám định); 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh giấy gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng được bọc bằng túi nilon màu trắng là những vật Nhà nước cấm tàng trữ và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam ma túy được niêm phong trong 01 phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi “vật chứng thu giữ của Nguyễn Ngọc H khi bắt quả tang ngày 16/7/2023 (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên và chữ ký của Lê Tiến Dúng, Vũ Thị Thanh Huyền, Phùng Văn Dũng, Nguyễn Ngọc Hoà, Trần Nhật Tân và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh giấy gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng được bọc bằng túi nilon màu trắng.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/9/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ