- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Thị S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HSST Ngày 26 - 05 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Huy Hiệp.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khiển; bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2023/TLST-HS ngày 26/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:
Mùa Thị S (tên gọi khác: Mùa Thị S1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968 tại huyện ML, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản LH, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A C và bà Cứ Thị CH (đều đã chết); có chồng là Giàng A V và 06 con (con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2022, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Bích L, là Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người phiên dịch: Anh Mùa A H; trú tại: thôn 7 xã CM, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ ngày 30/8/2022 tổ công tác Công an huyện ML phối hợp với các lực lượng chức năng khác làm nhiệm vụ tại bản H, xã NP, huyện ML, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Thào Thị B, sinh năm 1983 và Thào Thị M (M1), sinh năm 1977 cùng trú tại bản HN, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng: Thu giữ của Thào Thị B 20 túi nilon trong có các viên nén màu hồng; thu của Thào Thị M 08 túi nilon trong có các viên nén màu hồng, (B và M khai là hồng phiến đang mang đi bán cho Mùa Thị S2 và Mùa Thị L trú tại: bản GP, xã NC, huyện ML, tỉnh Sơn La).
Mở rộng điều tra, ngày 31/8/2022 cơ quan CSĐT Công an huyện ML đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mùa Thị S2, trong quá trình khám xét phát hiện tại nhà của S2 có các đối tượng Mùa Thị L, Hờ Thị N và Mùa Thị S (tên gọi khác Mùa Thị S1), kết quả khám xét thu giữ: 02 bánh hình chữ nhật trong có bột trắng (Sua khai là Heroine) có khối lượng 576,42 gam; 03 túi hồng phiến = 56,69 gam; thu giữ 01 điện thoại di động của Mùa Thị S2, 02 điện thoại di động của Mùa Thị L, 02 điện thoại di động và 4.000.000đ của Hờ Thị N; Thu giữ của Mùa Thị S: 02 túi hồng phiến có khối lượng 11,33 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K28 Plus.
Cơ quan CSĐT Công an huyện ML đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định toàn bộ khối lượng vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ, trong đó: 02 túi ni lon màu xanh bên trong chứa các viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Mùa Thị S có tổng khối lượng 11,33 gam trích lấy 0,69 gam giám định ký hiệu SN4, SN5.
Kết luận giám định số 1495/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu từ BM01 đến BM28 và từ SN1 đến SN5 đều là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 15,63 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu SL1 và SL2 đều là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là SL1 = 4,27gam; SL2 = 2,64 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 557,97gam loại Methamphetamine và 576,42 gam, loại Heroine.
Ngày 08/9/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện ML ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điều 251 Bộ luật Hình sự và ra lệnh tạm giam đối với các bị can. Ngày 22/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện ML đã ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC 04) Công an tỉnh Sơn La để điều tra theo thẩm quyền.
Căn cứ kết quả điều tra xác định hành vi của Mùa Thị S là độc lập với hành vi của các bị can khác trong vụ án nên ngày 24/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La ra quyết định tách vụ án hình sự số 06/QĐ-CSMT tách bị can Mùa Thị S để giải quyết theo một vụ án độc lập.
Quá trình điều tra Mùa Thị S khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Hồi 19 giờ ngày 28/8/2022 Mùa Thị S rủ Hờ Thị N, trú tại bản I, xã C, huyện SM đến xã NC, huyện ML chơi. Trước khi đi S có mang theo 02 túi hồng phiến đã mua được trước đó của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 500.000đ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời; N mang theo 03 túi hồng phiến (S và N không ai nói cho nhau biết là có ma túy mang theo, đến khi bị bắt mới biết). Khi đi đến xã NC, Nu và S đến nhà của Mùa Thị S2 (bạn của N) để nghỉ lại. Đến khoảng 09 giờ ngày 31/8/2022 khi N và S đang ở nhà S2 thì có Công an đến nhà thi hành lệnh giữ, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mùa Thị S2, S lo sợ bị phát hiện nên đã lấy 02 túi hồng phiến đang giấu trong người vứt vào trong góc cửa nhà của S2. Quá trình cơ quan điều tra khám xét đã thu giữ của Mùa Thị S 02 túi hồng phiến tại góc cửa nhà có khối lượng 11,33 gam; tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K28.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Mùa Thị S khai nhận mua của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, ngoài lời khai Sa không có căn cứ chứng minh nào khác, buộc Mùa Thị S chịu trách nhiệm về số ma túy nói trên.
Do có hành vi nêu trên, tại cáo trạng số 43/VKS-P1 ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Mùa Thị S (Mùa Thị S1) về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Mùa Thị S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu, tuy nhiên bị cáo cho rằng trong 02 túi ni lon màu xanh do bị cáo cất giấu sau đó bị cán bộ Công an phát hiện thu giữ thì chỉ có 01 túi có ma túy (có khoảng 100 viên hồng phiến), túi ni lon còn lại không có ma túy, túi này do bị cáo xin thêm của người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo mục đích để san một phần ma túy ra để cất giấu sử dụng; bị cáo thừa nhận đã được nhận dạng số vật chứng là ma túy của bị cáo bị Công an thu giữ và chứng kiến, xác nhận số ma túy bị cáo bị thu giữ khi cơ quan Công an cân xác định khối lượng và trích mẫu giám định, bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy của bị cáo được xác định là 11,33 gam và nhất trí với kết luận giám định chất ma túy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và kết luận: bị cáo Mùa Thị S đã có hành vi mua bán trái phép 11,33 gam ma túy loại Methamphetamine nên đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “Methamphetaminecó khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có một tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mùa Thị S (Mùa Thị S1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mùa Thị S (S1) từ 08 đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 10,64 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động; về án phí: đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của Luật sư Trần Bích L: Nhất trí tội danh, điều luật truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đối với bị cáo Mùa Thị S; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát đã nêu, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, là hộ nghèo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân không biết chữ nên nhận thức về pháp luật bị hạn chế, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mùa Thị S (S1) từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; đề nghị trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư và có ý kiến đề nghị xem xét giảm hình phạt và miễn án phí cho bị cáo vì gia đình là hộ nghèo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Ngoài ra, bị cáo cho rằng trong hai chiếc túi ni lon của bị cáo bị thu giữ chỉ có một túi chứa ma túy, còn về khối lượng chất ma túy bị cáo nhất trí không thắc mắc gì.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Về ý kiến của luật sư xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân không biết chữ và nhận thực pháp luật hạn chế, Kiểm sát viên nhất trí và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận; đối với ý kiến của bị cáo cho rằng bị có bị thu giữ 02 túi ma túy nhưng thực chất có một túi chứa ma túy, một túi không có ma túy là không đúng, bởi lẽ quá trình khám xét, thu giữ vật chứng bị cáo đều được tham gia chứng kiến, ngoài ra còn cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các bị can khác và người làm chứng tham gia, bản thân bị cáo đều xác định 02 túi ni lon màu xanh bên trong đựng ma túy là của bị cáo, bị cáo đã thừa nhận và ký vào biên bản xác nhận sự việc, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận việc thay đổi lời khai trên của Mùa Thị S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, cơ bản phù hợp với nội dung Cáo trạng, thể hiện: Ngày 31/8/2022 Mùa Thị S đã có hành vi tàng trữ trái phép 11,33 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt giữ tại tại nhà Mùa Thị S2 ở bản Giạng Phổng, xã Ngọc Chiến, huyện ML, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa, bị cáo Mùa Thị S đã khai nhận hành vi phạm tội nhưng có thay đổi tình tiết vụ việc, bị cáo cho rằng trong 02 túi ni lon màu xanh được cất giấu trong đống cỏ voi đã cắt nhỏ cho trâu, bò ăn tại vị trí góc nhà phía bên trái cửa ra vào nhà của Mùa Thị S2 là của bị cáo, do bị cáo cất giấu sau đó bị Cơ quan Công an thu giữ, nhưng chỉ có 01 túi có ma túy (có khoảng 100 viên hồng phiến) túi ni lon còn lại không có ma túy, túi này do bị cáo xin thêm của người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, mục đích sẽ san một phần ma túy ra để cất giấu sử dụng (nhưng bị cáo chưa kịp san). Xét lời khai trên của Mùa Thị S là không có cơ sở để chấp nhận, bởi lẽ: trong quá trình khám xét Cơ quan điều tra đã phát hiện chất ma túy được cất giấu nhiều nơi trong nhà Mùa Thị S2 và đã lập “Biên bản sự việc” có sự tham gia của chính quyền địa phương, của Mùa Thị S và các bị can khác cùng người làm chứng thì bị cáo S đã thừa nhận 02 túi ni lon màu xanh được cất giấu tại vị trí nêu trên là của bị cáo (trong hai túi đều chứa chất ma túy là viên hồng phiến). Mặt khác, trong quá trình mở niêm phong, xác định khối lượng ma túy và lấy mẫu giám định Cơ quan điều tra đã lập “Biên bản nhận dạng vật chứng” và cho Mùa Thị S cùng các bị can khác nhận dạng về đặc điểm, số vật chứng là ma túy của từng người thì Mùa Thị S đã được nhận dạng 02 túi ni lon màu xanh bên trong đựng các viên ma túy (hồng phiến) là của S. Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo đều khai nhận đồng nhất về số lượng, khối lượng chất ma túy bị thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo vẫn nhất trí với khối lượng chất ma túy của bị cáo cất giấu đã được Cơ quan điều tra cân và xác định là 11,33 gam. Do đó việc thay đổi lời khai nêu trên của Mùa Thị S là không có căn cứ và không làm thay đổi bản chất vụ án (về khối lượng chất ma túy bị cáo bị quy kết chịu trách nhiệm hình sự).
Như vậy, lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào Thị B, Thào Thị M; Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; Biên bản sự việc và biên bản nhận dạng vật chứng được lập đối với Mùa Thị L, Mùa Thị S1 (Sa), Mùa Thị S2, Hờ Thị N các đối tượng đã khai nhận về đặc điểm nhận dạng, số lượng ma túy và vị trí cất dấu ma túy của từng người; Biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu trưng cầu giám định và Kết luận giám định về chất ma túy đối với vật chứng thu giữ của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc khi bắt quả tang đối với bị cáo và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ như đã nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi trên của bị cáo Mùa Thị S (Mùa Thị S1) đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Mùa Thị S đã có hành vi mua bán trái phép 11,33 gam Methamphetamine nên đã vi phạm tình tiết định khung “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có khung phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm và tệ nạn khác trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm khắc.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (là đối tượng được trợ giúp pháp lý), nên chấp nhận đề nghị của người bào chữa và Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét thấy, bị cáo phạm tội với khối lượng chất ma túy tương đối lớn so với khối lượng chất ma túy được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do đó mức hình phạt tù như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn, nếu phạt tiền thì bị cáo cũng không có điều kiện thi hành, nên chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và Luật sư không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, đồ vật, tài sản trong vụ án:
- Đối với 10,64 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích rút mẫu gửi giám định, đây là chất mà túy Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng các vỏ gói niêm phong ban đầu.
- Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo là tài sản bị cáo không sử dụng vào hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Mùa Thị S là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 681/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ), do đó theo quy định của pháp luật bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Mùa Thị S (tên gọi khác: Mùa Thị S1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mùa Thị S (Mùa Thị S1) 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng, đồ vật, tài sản: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì do phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong, một mặt phong bì có ghi dòng chữ: Vật chứng Mùa Thị S, sinh năm 1986, trú tại bản LH, PC, huyện MS, tỉnh Sơn La, hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 31/8/2022 gồm SN4A = 0,85 gam và SN5A = 9,79 gam + 01 phong bì đã bóc mở (Khối lượng vật chứng được tính theo khối lượng trong biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng do Cơ quan CSĐT Công an huyện ML lập hồi 09 giờ 20 phút, ngày 01.09.2022) Kết luận giám định số 1495 ngày 05/9/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, thì mẫu gửi giám định ký hiệu SN4, SN5 đều là ma túy, loại Methamphetamine).
2.2. Trả lại cho bị cáo Mùa Thị S (S1): 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu KECHAODA K28 plus (điện thoại bàn phím) vỏ nắp lưng màu vàng đồng, viền máy màu đen, viền màn hình màu bạc, kèm 01 sim trong điện thoại; imei 04 số cuối imei 1: 7774; imei 2: 7782 đã qua sử dụng (đang thu giữ của bị cáo).
(Vật chứng, đồ vật, tài sản: Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị S (S2).
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/5/2023)./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Phòng PC04-Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Huy Hiệp |