- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lăng Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 82/2023/HSST Ngày: 10/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
2. Ông Dương Văn Xuyên
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai (trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2023/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
LĂNG VĂN M., sinh năm 1991
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm T2, xã T huyện Phú Lương, Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn Văn C., con bà Lăng Thị U; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 09/01/2023 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lương Trần H. - sinh năm 1974
Địa chỉ: Số 37/6/6 N, phường P, quận Ba Đình, Hà Nội
Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, tại ngã tư đường P thuộc T4, thị trấn S, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Đội CSGT số 15 - Công an thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính đối với LĂNG VĂN M., sinh năm 1991, trú tại Xóm T2, xã T, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh đen BKS 35H3-0320. Tang vật thu giữ: 01 gói giấy bạc kích thước (1x1)cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh đen BKS 35H3-0320.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu LĂNG VĂN M., kết quả: dương tính với ma tuý loại Heroine.
Tại Bản Kết luận giám định số 411 ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,169 gam.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 15 giờ ngày 09/01/2023, M. đi xe máy BKS 35H3-0320 từ nơi làm việc ở đường B, phường P, quận Ba Đình, Hà Nội đến thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực gần bến xe thành phố Thái Nguyên, M. mua 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. M. cất ma túy vừa mua được vào túi áo khoác phía dưới bên phải rồi đi xe máy về Hà Nội. Trên đường về, M. rẽ vào bãi đất trống ven đường để sử dụng một phần ma túy vừa mua được bằng hình thức chích. Sau đó, M. cất số ma túy còn lại vào túi áo khoác rồi tiếp tục điều khiển xe về Hà Nội. Khi đi đến ngã tư đường P thuộc T4, thị trấn S, huyện Sóc Sơn thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ người cùng tang vật.
Đối với người bán ma túy cho M., do M. không biết tên, tuổi, địa chỉ và không rõ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ điều tra, làm rõ.
Vật chứng thu giữ: Chiếc xe máy BKS 35H3-0320 M. sử dụng đi mua ma túy ngày 09/01/2023, M. khai mượn của anh Lương Trần H., sinh năm 1974, trú tại Số 37/6/6 N, phường P, quận Ba Đình, Hà Nội. Anh H. mua chiếc xe máy trên tại một cửa H.ng bán xe máy cũ trên địa bàn quận Đống Đa vào tháng 5/2022 với giá 1.500.000 đồng, tuy nhiên anh H. đã làm mất giấy tờ mua bán và đăng ký xe. Anh H. không biết M. sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy.
Tiến hành tra cứu BKS 35H3-0320 xác định là BKS của xe nhãn hiệu Honda Lead, SK 065296, SM 0075035, chủ xe mang tên Lê Thanh H., sinh năm 1975, trú tại thôn Văn H., xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Anh Lê Thanh H. khai: khoảng năm 2019, chị Lê Thị H, sinh năm 1981, trú tại T4, phường V, quận Ba Đình, H. Nội nhờ mua và đứng tên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead với giá 37.000.000 đồng, đăng ký BKS 35H3-0320. Chị Lê Thị H khai: Quá trình sử dụng xe, chị H đã bị rơi mất BKS 35H3-0320 từ năm 2015 đến nay, chị H đề nghị Cơ quan Công an tiêu hủy chiếc BKS trên.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter thu giữ của LĂNG VĂN M. có số khung 5SD220787, số máy 5SD220787, BKS 29P3-2556, không nằm trong hệ thống xe tang vật, có số khung, số máy nguyên thủy, chủ xe mang tên Bùi Lan T, sinh năm 1984, trú tại 34 phố L, phường T, quận Đống Đa, H. Nội. Tiến HÀnh xác minh tại công an phường T xác định chị Bùi Lan T đã lấy chồng và định cư tại Mỹ từ năm 2017 đến nay. Tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu trên Báo An ninh thủ đô đến nay chưa có thông tin gì về chủ sở hữu chiếc xe trên.
Quá trình điều tra, LĂNG VĂN M. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về Hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lương Trần H. đề nghị được nhận lại chiếc xe máy làm phương tiện đi lại.
[2]. Tại bản cáo trạng số 55/CT - VKS ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố LĂNG VĂN M. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận LĂNG VĂN M. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Xử phạt LĂNG VĂN M. từ 12 đến 15 tháng tù.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Heroin có chữ ký của LĂNG VĂN M. và Giám định Viên; 01 BKS 35H3-0320;
+ Trả lại anh Lương Trần H. 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh đen.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo tHành khẩn khai nhận Hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 18 giờ 30 ngày 09/01/2023, tại ngã tư đường P thuộc T4, thị trấn S, huyện Sóc Sơn, H. Nội, LĂNG VĂN M. đang có Hành vi tàng trữ trái phép 0,169 gam túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại chính sách độc quyền quản lý của NH. nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng tHành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ Hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo tHành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo có ông ngoại Lăng THành k được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, có bà ngoại là Lưu Thị h được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, lần đầu gặp mặt, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
. Xử lý vật chứng:
+ 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Heroin có chữ ký của LĂNG VĂN M. và Giám định Viên; 01 BKS 35H3-0320 cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Trả lại anh Lương Trần H. 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh đen có số khung 5SD220787, số máy 5SD220787.
. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: LĂNG VĂN M. 13 (mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp Hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2023.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Heroin có chữ ký của LĂNG VĂN M. và Giám định Viên; 01 BKS 35H3-0320;
Trả lại anh Lương Trần H. 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh đen có số khung 5SD220787, số máy 5SD220787.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2023 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Sóc Sơn, tHành phố H. Nội).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lương Trần H. có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ hợp pháp của mình.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Nguyệt
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - THADS huyện Sóc Sơn; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Bích Nguyệt |