- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày: 29 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Phú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
- Cán bộ hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến:
1. Ông Nguyễn Văn Sáng - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
2. Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
3. Ông Vũ Xuân Hợp - Cán bộ trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 9 năm 2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian, địa điểm xét xử số 11/2023/TB TA ngày 28 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn G, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu dân cư số 6 – P1, phường P, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tuấn Kh và bà Lục Thị Đ (đều đã chết); vợ là Phạm Thị T (đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Bản án số 02/HSST ngày 10/01/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương và bản án số 621/PTHS ngày 19/4/2001 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Vũ Văn G 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 29/4/2012 G chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án;
- Bản án số 66/2015/HSST ngày 22/12/2015 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt Vũ Văn G 15 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Đến ngày 30/11/2016 G chấp hành xong hình phạt tù bản án, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161/QĐ-XPHC ngày 11/8/2014 của Công an Thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), xử phạt Vũ Văn G về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 14/8/2014 G chấp hành xong quyết định;
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC ngày 14/3/2015 của Công an phường Phả Lại, thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), xử phạt Vũ Văn G về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Đến ngày 25/3/2015 G chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên toà.
* Người làm chứng: Anh Thân Văn T1. Vắng mặt;
* Người chứng kiến: Anh Bùi Hữu T2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 01/6/2023, Vũ Văn G đi bộ từ nhà ở khu dân cư số 6 P1, phường P2, thành phố Chí Linh đến khu vực Kênh Thải thuộc phường P2, thành phố Chí Linh để mua ma túy về bán lại kiếm lời. Tại đây, G gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch 03 túi ma tuý với giá 1.000.000 đồng. Sau đó G cầm các túi ma tuý đi về nhà và cất giấu trong 01 hộp nhựa màu đen đặt tại kệ tủ để ti vi ở phòng khách. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/6/2023, khi G đang ở nhà thì có Thân Văn T1 sử dụng điện thoại Nokia, lắp sim số 0376197285 gọi tới điện thoại của G lắp sim số 0589581545 và hỏi “để cháu cái năm trăm” (ý T1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy). G2 đồng ý và nói “cứ ra mà lấy”. Sau đó, G2 cầm 01 túi nilong màu trắng, viền khoá màu xanh, bên trong chứa ma tuý ra cổng nhặt một mảnh giấy bạc ở đường để quấn túi ma tuý và đứng đợi. Khoảng 15 giờ 50 phút, Thân Văn T1 đi nhờ xe mô tô Honda Wave màu đen bạc, biển kiểm soát số 34C1 - 23150 do anh Bùi Hữu T2 điều khiển đi đến nhà G (xe anh T2 mượn của anh Nguyễn Văn L trước đó, anh T2 không biết Trường đến gặp G để mua ma túy). Khi đến nơi, anh T2 đứng ngoài cổng đợi còn T1 đi vào trong sân nhà G. Giám nói với T1 “còn mỗi tí này thôi hết đồ rồi”, T1 trả lời “vâng”. G đưa cho T1 01 gói giấy bạc bên trong có 01 túi nilong có chứa ma túy, T1 đưa cho G 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng có số seri ON14336393, tại vị trí chữ “O” có tô bằng mực xanh, G nhận và cất số tiền 500.000 đồng dưới viên gạch lát nền trong phòng bếp. Sau khi mua được ma túy, Trường dùng tay bóc giấy bạc vứt ra sân, rồi đi ra nói với anh T2 “cho đi nhờ lên khu vực đồi Hoàn Hảo”. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 và T2 đến khu vực đồi Hoàn Hảo thuộc khu dân T, phường S, thành phố Chí Linh, Trường bảo anh T2 dừng xe và đứng đợi, còn T1 đi bộ lên đồi hoàn hảo bỏ gói ma túy mua được ra để sử dụng (anh T2 không biết việc T1 đi sử dụng ma tuý). Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 cầm vỏ gói ma túy đã sử dụng quay lại chỗ anh T2 đứng đợi thì bị Công an thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ trong lòng bàn tay phải T1: 01 túi ni lông màu trắng, viền khoá màu xanh kích thước (1,7 x 1,8)cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu (1) và thu giữ của T1 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0376197285.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn G, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh đã thu giữ: 01 hộp nhựa màu đen, kích thước (15 x 5 x 4)cm, bên trong có 02 túi nilong màu trắng, viền khóa màu đỏ kích thước (2 x 2)cm, bên trong túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu (2); Thu giữ số tiền 3.500.000 đồng ở dưới viên gạch lát nên trong phòng bếp, trong đó có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, số seri ON14336393, tại vị trí chữ “O” có tô bằng mực xanh.
Tại Bản kết luận giám định số 287/KL - KTHS ngày 05/6/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilong màu trắng, viền khóa màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu số (1) ghi thu của Thân Văn T1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 02 túi nilong màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu số “2”, ghi thu của Vũ Văn G tự nguyện giao nộp trong quá trình khám xét chỗ ở của G gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,351 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng hoàn lại là 0,258 gam).
Tại Bản kết luận giám định số 173/KL - KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri ON 14336393 (ký hiệu A) là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS-CL ngày 13/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Vũ Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí vì là người cao tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Vũ Văn G từ 33 tháng tù đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa: 01 hộp nhựa màu đen kích thước (15 x 5 x 4)cm; 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu xanh, 01 vỏ phong bì ký hiệu số (1) niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa 0,258 gam ma túy loại Methamphetamine, 02 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số (2) niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri ON 14336393. Về án phí: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các biên bản vụ việc, biên bản khám xét, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 02/6/2023, tại khu dân cư số 6 – P1, phường P2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Vũ Văn G đã có hành vi bán trái phép cho Thân Văn T1 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng. Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày tại khu vực đồi Hoàn Hảo thuộc KDC T, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, khi Thân Văn T1 vừa sử dụng trái phép chất ma tuý mua của G xong thì bị Lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện, thu giữ vỏ gói ma túy. Khám xét khẩn cấp nơi ở của G, phát hiện, thu giữ 0,351gam ma túy, loại Methamphetamine G cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vì mục đích thu lợi bất hợp pháp nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,351 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích bán kiếm lời và ngày 02/6/2023 bị cáo đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine cho người khác nên cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bán ma tuý với mục đích kiếm lời nhưng bị cáo không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,351 gam ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,258 gam) mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã thu giữ là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 hộp nhựa màu đen kích thước (15 x 5 x 4)cm; 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu xanh; 02 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ; phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri ON 14336393 đựng trong 01 phong bì dán kín niêm phong là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo G, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lý lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh không có căn cứ để xử lý nên không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thân Văn T1, Công an thành phố Chí Linh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPHC ngày 04/8/2023 đối với T1 theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên không xem xét.
Bùi Hữu T2 không biết Thân Văn T1 mua, cất giấu và sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên không xem xét.
Đối với chiếc điện thoại của G dùng để liên lạc bán ma tuý cho Trường, G đã làm mất chiếc điện thoại, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xem xét.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu đen, lắp sim số 0376197285 là tài sản của Thân Văn T1, không phải công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho T1, nên không xem xét.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu tại nhà G, qua xác minh là tiền G mượn của con trai là anh Vũ Văn D với mục đích để chi tiêu cá nhân, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma tuý, Công an thành phố Chí Linh đã trả lại số tiền trên cho anh Vũ Văn D nên không đặt ra xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 34C1 - 23150 là tài sản của anh Nguyễn Văn L, anh L không biết anh T2 sử dụng xe chở T1 đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh L và không đặt ra việc xử lý đối với anh L nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, do bị cáo là người cao tuổi nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Văn G 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong mặt trước ghi: Công an tỉnh Hải Dương, số 287/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 843 ngày 03/6/2023, góc trên bên phải ký hiệu T1, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu xanh và 01 vỏ phong bì ký hiệu số (1) niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 phong bì dán kín niêm phong mặt trước ghi: Công an tỉnh Hải Dương, số 287/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 843 ngày 03/6/2023, góc trên bên phải ký hiệu T2, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa 0,258 gam ma túy, loại Methamphetamine, 02 vỏ túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu số (2) niêm phong mẫu vật gửi đến giám định;
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri ON 14336393 đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Công an tỉnh Hải Dương, số 173/KL-KTHS, mặt sau có 04 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu.
(Vật chứng hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2023 giữa Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
- Về án phí: Bị cáo Vũ Văn G là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an TP Chí Linh; - Bộ phận nghiệp vụ CATP Chí Linh; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP Chí Linh; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |