vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam để thi hành án. 2/- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại Iphone 11 Pro màu vàng đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo N lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS-ST
Ngày: 25-9-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Trung;

2. Ông Nguyễn Hữu Hạnh.

- Thưkýphiêntòa: ôngPhạm Thành Lộc–Thư ký Tòaánnhân dânthị xãCai Lậy..

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: ông Đặng Duy Thanh -Kiểm sátviên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST- HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưavụán raxétxử số:75/2023/QĐXXST- HSngày 13tháng9năm 2023,đốivớibị cáo:

LêThịKim N;sinhngày 11tháng11năm 1998;

Nơisinh:tỉnh Tiền Giang;

Đăngkýhộkhẩuthường trú: khuphố T,thịtrấnP,huyện L,tỉnh Tiền Giang.

Nghềnghiệp:làm thuê.

Trình độvănhóa:lớp7/12;

Quốctịch: Việt Nam; Dântộc:kinh; Tôngiáo:không;

Conông: Lê Tấn D vàbàCao Thị N.

Chồng NguyễnHoài T;bịcáocó02con,lớnsinhnăm 2017, nhỏsinhnăm 2019.

Tiềnsự:không; Tiền án:không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/6/2023 đến nay và có mặttạiphiêntòa.

* Ngườibịhại:bà Lê Thị Thu H,sinhnăm 1967.

Địa chỉ:khuphố A,phườngB,thịxã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền trả nợ và chơi game, Lê Thị Kim N đã nảy sinh ý định đến cửa hàng điện thoại di động có dịch vụ chuyển tiền thu phí trên địa bàn thị xã Cai Lậy để yêu cầu chuyển tiền và tìm cách chiếm đoạtsaukhitiền đượcchuyển vàotàikhoản.

Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 11/4/2023 Lê Thị Kim N điều khiển xe mô tô biển số 59V2-688.71 đến cửa hàng điện thoại di động Văn Minh H tại khu phố D, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang gặp bà Lê Thị Thu H là chủ cửa hàng. N yêu cầu bà H thực hiện giao dịch chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản số 106872348197 của N mở tại Ngân hàng VietinBank trong khi bản thân N không có đủ số tiền 20.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận cước phí là 50.000 đồng; do tin tưởng N có đủ tiền chi trả nên bà H sử dụng tài khoản số 0671004155706 của bà H mở tại Ngân hàng VietcomBank để chuyển vào tài khoản của N với số tiền 19.950.000, bà H giữ lại 50.000 đồng là tiền thu phí chuyển tiền. Sau khi bà H đã chuyển tiền vào tài khoản của N, N tiếp tục nói dối với bà H là muốn mua điện thoại của cửa hàng; trong lúc trao đổi thông tin để mua điện thoại, N cung cấp cho bà H số điện thoại N đang sử dụng. Khi thấy bà H mất cảnh giác không chú ý N đi ra xe mô tô, bà H nhìn thấy hỏi N đi đâu thì N nói là ra xe lấy tiền rồi lên xe mô tô chạy đi. Bà H đếnCơquanCôngantrìnhbáosự việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 59V2-688.71 cùng giấy đăng ký xe và 01 điện thoại di động loại Iphone 11 màu vàng đồng;

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy đã trao trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoài Thanh xe mô tô biển số 59V2-688.71 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTXCL ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy đề nghị truy tố Lê Thị Kim N ra trước Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy để xét xử về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Thị Kim N khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện vào ngày 11/4/2023 đúng như Cáo trạng đã nêu; Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bà Nguyễn Thị H là người bị hại vắng mặt tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Cai Lậy giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù; tịch thu nộp N sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro đang thu giữ và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xácđịnhtộidanh:

Lời khai của bị cáo Lê Thị Kim N tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ đã xác định: khoảng 07 giờ 50 phút ngày 11/4/2023, tại cửa hàng điện thoại di động Văn Minh H thuộc khu phố D, phường B, thị xã C, bản thân không có tiền nhưng bị cáo Lê Thị Kim N vì muốn chiếm đoạt tiền bằng thủ đoạn gian dối nên đã yêu cầu chủ cửa hàng bà Lê Thị Thu H chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của mình rồi bỏ đi nhằm chiếm đoạt số tiền 19.950.000 đồng của bà H đã chuyển vào tài khoản của bị cáo.

Hành vi của bị cáo Lê Thị Kim N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự địa phương. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại, bị cáo N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưngvìđộngcơ cánhân đã cố ýthựchiện.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Thị Kim N phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tàisản”, tội phạm và hìnhphạtđượcquy địnhtại khoản1Điều174của Bộluật Hìnhsự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố bị cáo Lê thị Kim N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúngtội,khôngbỏ lọt tội phạm.

Bị cáo Lê Thị Kim N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Kim N khai nhận sau khi chiếm đoạt tiền của bà H thì tiếp tục có ý định thực hiện hành vi tương tự tại 01 cửa hàng ở ấp Ngãi Thuận, xã Thân Cữu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang để lấy tiền trả lại cho bà H nhưng do chủ cửa hàng cảnh giác nên không thực hiện được. Đây là tình tiết xác định bị cáo N rất xem thường pháp luật.

Qua xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo Lê Thị Kim N ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo biết tôn trọng pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

3

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Lê Thị Thu H là người bị hại đã nhận lại số tiền 19.950.000 do bị cáo N trao trả và có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự cho bị cáo.

Vật chứng vụ án:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy đã trao trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoài Thanh xe mô tô biển số 59V2-688.71 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động loại Iphone 11 Pro màu vàng đồng là phương tiện bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy đã phân tích chứng cứ xác định bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174củaBộluật Hìnhsự là cócăn cứ, đúngngười,đúngtội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhsự và mứchìnhphạtđối áp dụnglàphùhợpvới tínhchất, mức độnguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện; đề nghị xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hộiđồng xétxử.

Quá trình điều tra Lê Thị Kim N khai nhận còn thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại ấp Ngãi Thuận, xã Thân Cữu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy đã có văn bản gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phối hợp xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174; Điều 47 và điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam để thi hành án.

2/- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại Iphone 11 Pro màu vàng đồng.

3/- Án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4

4/- Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Bà H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ