- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày: 18 – 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngân Hà
Bà Đặng Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2023/TLST - HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn D, sinh ngày: 03/11/1986, tại: Quảng Bình; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKNKTT và chổ ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Thợ xây; con ông: Lê Văn D1, sinh năm: 1958 và bà: Nguyễn Thị R, sinh năm: 1956; ông bà đều trú tại: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; anh chị em ruột: D là con duy nhất trong gia đình; vợ: Phan Thị Đ, sinh năm: 1989; nghề nghiệp: Công nhân; con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt theo lệnh trích xuất.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, tại trước số nhà B đường L thuộc thôn F L, xã L. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố Đ phối hợp với Phòng PK02 - Công an tỉnh Q và Công an phường B tiến hành kiểm tra phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 73K3-7899 do Lê Văn T điều khiển chở Lê Văn D ngồi sau. Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện bắt quả tang D đang có hành vi cất giấu ở túi quần phía sau bên phải 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng. D khai đó là ma túy loại hồng phiến, D đã mua để sử dụng.
Nguồn gốc số ma túy trên D khai nhận vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21/4/2023 mua của một nam thanh niên tự xưng “Cu em” không rõ lý lịch với giá 100.000 đồng vào khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày tại khu vực đường T, phường B để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 387/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu giám định ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,195g.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã thu giữ: 01 phong bì thư đã được niêm phong số 387/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, trên phong bì niêm phong có ghi chữ “vỏ bao gói”.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSĐH-MT ngày 19 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Lê Văn D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Lê Văn D đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo đúng như toàn bộ nội dung bản cáo trạng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Lê Văn D từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong số 387/KL-KYHS của Phòng K Công an tỉnh Q, hoàn trả sau giám định bên trong chứa vỏ bao gói.
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới công bố bản cáo trạng Lê Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp cả về mặt thời gian, địa điểm và diễn biến quá trình phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, tại trước số nhà B đường L thuộc thôn F L, xã L, thành phố Đ. Lê Văn D bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Đ phối hợp với Phòng PK02 – Công an tỉnh Q và Công an phường B bắt quả tang Lê Văn D đang có hành vi tàng trữ 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,195gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại bản Kết luận giám định số 387/KL - KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,195gam.
Như chúng ta đã biết M nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. Vì vậy, hành vi của Lê Văn D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố.
Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Lê Văn D là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sự phát triển của xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm hại chính sách độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác.
Bị cáo Lê Văn D là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết pháp luật nhưng không chịu lao động chân chính mà lại ham chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện và lệ thuộc vào ma túy nên đã có hành vi cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cá nhân. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lê Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo một số tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D đã có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Lê Văn D còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Xét thấy, bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ sử dụng cho bản thân chứ không có mục đích nào khác, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Văn D.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong số 387/KL-KYHS của Phòng K Công an tỉnh Q, hoàn trả sau giám định bên trong chứa vỏ bao gói. (Theo Kết luận giám định số 387/KL - KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q); căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Các nhận định khác:
- Về nguồn gốc toàn bộ số ma túy Methamphetamine trên do Lê Văn D mua của một nam thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ, tự xưng tên là “ Cu em” ở khu vực đường T thuộc phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình thuộc phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 21/4/2023. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được người bán ma túy cho Lê Văn D nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định củ pháp luật.
- Đối với Lê Văn T là người điều khiển phương tiện chở Lê Văn D, không biết việc Lê Văn D cất giấu, tàng trữ ma tuý nên không phạm tội.
Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở các đối tượng trên trong việc phòng chống tội phạm.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới về tội danh, mức hình phạt phù hợp với các nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn D 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong số 387/KL-KYHS của Phòng K Công an tỉnh Q, hoàn trả sau giám định bên trong chứa vỏ bao gói. (Theo Kết luận giám định số 387/KL - KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q).
(Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2023, giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).
5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/8/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND tỉnh. - VKSND thành phố Đồng Hới. - Công an thành phố Đồng Hới. - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới. - THA phạt tù. - Người tham gia tố tụng. - Lư hồ sơ. - Lưu án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Tuyết Minh |