- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Liệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày 23/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Trung Xuân
2. Ông Lý Văn Chỉnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Sỹ Cách - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2023/HSST, ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/HSST-QĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Liệu Văn T, sinh ngày 28/01/1994; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm C, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Liệu Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị S; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2023 đến ngày 20/4/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 12/4/2023, tại khu vực tổ A, phường N, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang đối với Liệu Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay phải của Liệu Văn T 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy (Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của Liệu Văn T có khối lượng là 0,21g (không phẩy hai mốt gam). Sau khi cân niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định; phong bì, giấy gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu A2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 133/KTHS-MT ngày 20/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0, 21g (không phẩy hai mốt gam). Sau giám định mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong trong phong bì T74 hoàn lại Cơ quan trưng cầu.
Tại Cơ quan điều tra Liệu Văn T khai nhận: Số ma túy (Heroine) bị Cơ quan Công an thu giữ là của T tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không có mục đích khác. Về nguồn gốc ma túy, Liệu Văn T khai: Ngày 07/4/2023, Liệu Văn T đến thành phố Bắc Kạn để chăm sóc em trai (đang điều trị bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ A, phường N, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn). Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, Liệu Văn T đi bộ từ trong Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn ra ngoài khu vực cổng Bệnh viện với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi Liệu Văn T vào quán nước tại khu vực ngoài cổng Bệnh viện thì gặp một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang, không rõ lai lịch địa chỉ. Qua nói chuyện biết T muốn mua ma tuý nên người đàn ông này đã bán cho T 01 (một) gói ma túy, loại Heroine được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Liệu Văn T cầm gói ma túy vào trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đi đến khu vực gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Bắc Kạn kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Lời khai nêu trên của Liệu Văn T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSTP ngày 16/7/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Liệu Văn T về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố bị cáo Liệu Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Liệu Văn T từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười năm) tháng tù (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 12/4/2023 đến ngày 20/4/2023) và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T74; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.
*Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền nói lời sau cùng nhưng không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Liệu Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 12/4/2023, tại khu vực tổ A, phường N, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Liệu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,21g (không phẩy hai mốt gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ tang vật.
Hành vi nêu trên của Liệu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Heroine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng số 58/CT-VKSTP ngày 16/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo. Xét bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu làm ăn lương thiện, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý; nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.
Trong vụ án này, còn có người đàn ông lạ mặt là người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo vào ngày 12/4/2023 tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ A, phường N, thành phố Bắc Kạn, do bị cáo không biết rõ họ, tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Về vật chứng trong vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T74 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo là hộ nghèo nên không áp dụng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Gia đình bị cáo là hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Liệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Liệu Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/8/2023 (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 12/4/2023 đến ngày 20/4/2023).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T74; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |