- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày: 21 – 6 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
2. Bà Trần Quang Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh – Kiểm sát viên.
Vào ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh ngày 13/7/1995; Tại tỉnh V; Thường trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh V; Chỗ ở: 269/1E đường G, phường T, quận T, Thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, Con ông Nguyễn Hữu C và bà Nguyễn Thị C; Chồng chưa có; Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, Công an phường T kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T kiểm tra hành chính tại nhà số 269/1E đường G, phường T, quận T do Nguyễn Thị T thuê, đã phát hiện thu giữ tại kệ nằm sát tường trái trong phòng tắm ở trong phòng ngủ của Nguyễn Thị T thuê, đã phát hiện thu giữ tại kệ nằm sát tường trái trong phòng tắm ở trong phòng ngủ của T dưới tầng 1 có 01 túi vải màu nâu, bên trong có 02 túi nylon chứa tinh thể màu trắng (m1), 01 túi nylon có chứa 02 viên nén màu xám (m2) và 02 viên nén màu vàng (m3). Tại góc tường hướng ra ngoài hẻm 269 đường G có 01 cái cân điện tử màu đỏ trắng có chữ Marllono, 01 cái cân màu đen có chữ Amput và 01 bịch nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon nhỏ nên lực lượng kiểm tra đưa về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận các chất trong túi vải màu nâu là ma túy đá cùng 02 cái cân, các túi nylon nhỏ do một người bạn quen biết ngoài xã hội tên Trần Quốc H (chưa rõ lai lịch) nhờ T giữ dùm vào ngày 14/11/2022 do H về quê.
Theo Kết luận giám định số 6742/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố H:
Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định có tổng khối lượng 46,8632 gam, không tìm thấy ma túy.
02 viên nén tròn màu xám được được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7951 gam loại MDMA.
02 viên nén màu vàng được ký hiệu mẫu m3 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7370 gam loại MDMA.
Vật chứng vụ án:
+ 01 gói niêm phong số 6742/22 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Phan Tấn Q (giám định viên), Trần Phương N (cán bộ điều tra).
+ 01 cân điện tử màu đỏ, trắng có chữ Marllono.
+ 01 cân màu đen có chữ Amput.
+ 01 bịch nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon nhỏ.
+ 01 túi vải màu nâu.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSQTP ngày 09/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận T để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ;
Sau khi nghe lời khai nhận tội của bị cáo;
Sau khi nghe ý kiến tranh luận và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về mức án đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, tại nhà số 269/1E đường G, phường T, quận T, Nguyễn Thị T bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 1,5321 gam ma túy ở thể rắn, loại MDMA.
Đối với Trần Quốc H do không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đủ cở sở để xử lý.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của nhân chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận do muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã tàng trữ 1,5321 gam ma túy loại MDMA; hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn tàng trữ đã thể hiện ý thức xem thường pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng, mới có tác dụng răn đe giáo dục và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Đây là dạng tội, ngoài hình phạt chính thì còn bị áp dụng hình phạt tiền bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:
+ Đối với 01 gói niêm phong số 6742/22 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Phan Tấn Q (giám định viên), Trần Phương N (cán bộ điều tra) là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 cân điện tử màu đỏ, trắng có chữ Marllono; 01 cân màu đen có chữ Amput; 01 bịch nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon nhỏ; 01 túi vải màu nâu là những vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khỏan 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2022.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: (Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 38/PNK ngày 28/02/2023 của Công an quận T).
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 6742/22 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Phan Tấn Q (giám định viên), Trần Phương N (cán bộ điều tra); 01 cân điện tử màu đỏ, trắng có chữ Marllono; 01 cân màu đen có chữ Amput; 01 bịch nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon nhỏ; 01 túi vải màu nâu.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an quận T; - VKSND quận T; - Chi cục THADS quận T; - TAND TP. H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Quyên |