vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lường Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Lường Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS-ST
Ngày 30/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Quyết Thắng và ông Tòng Văn Nghiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1986; tại huyện T, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản S, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Lường Văn Ó, sinh năm 1959; con bà Lò Thị Ủ, sinh năm 1960; vợ bị cáo là Lường Thị Ỏ, sinh năm 1990 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2010 và con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không ; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 09/7/2013 chấp hành xong về địa phương sinh sống, bị cáo đã được xóa án tích, bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/3/2023 cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Họ và tên: Lò Thị H1; sinh ngày 03/9/2007 (đã chết).

- Họ và tên: Phạm Ngọc A, sinh năm 2007, trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Chị Lò Thị L; sinh năm 1981 và anh Lò Văn X, sinh năm 1976; đều trú tại: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là những người đại diện hợp pháp của bị hại Lò Thị H1; có mặt.

- Chị Lò Thị O; sinh năm 1983; trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

- Anh Phạm Văn C; sinh năm: 1983; trú tại: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lò Văn H2; sinh năm 1984; trú tại: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; có mặt.

- Chị Lường Thị H3; sinh ngày 01/01/2007; trú tại: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; có mặt.

- Anh Lường Văn B; sinh năm 1978; trú tại: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (đồng thời anh B là đại diện hợp pháp của Lường Thị H3) có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 11/11/2022, Lường Văn H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu KIA FRONTIER K250, biển kiểm sát 26C-112.49 ngồi bên phụ là anh Lò Văn H2 (chủ xe), sinh năm: 1984, trú tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La. H điều khiển xe đi theo hướng M - T, khi đến Km 0+70, Quốc lộ B ngã ba T thuộc địa phận khối T, thị trấn T, huyện T, H nhìn thấy khoảng 3 xe máy chạy ngược chiều, cách xe H khoảng 200 mét, thấy vậy H giảm tốc độ và bật xi nhan bên trái chuyển hướng xe sang đường rẽ theo hướng T - Sơn La; trong lúc chuyển hướng xe do H không chú ý quan sát phần đường ngược chiều Hướng T - Điện Biên), nên khi xe ô tô của H rẽ sang và lấn hết phần đường của xe ngược chiều phía trước cách xe H khoảng 1,5 mét, H nhìn thấy một chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO biển kiểm soát: 27AA-036.25 do Lò Thị Hồng điều k, ngồi sau xe có chở theo Phạm Ngọc A, đi theo hướng T - Mường Lay trên phần đường ngược chiều so với xe của H, H không kịp xử lý nên hai xe đâm trực diện vào nhau hậu quả Lò Thị H1 tử vong, Phạm Ngọc A bị tổn thương cơ thể 7%, hai xe bị hư hỏng.

Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan cảnh sát Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định pháp y về tử thi; trưng cầu giám định thương tích; yêu cầu định giá tài sản.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường cụ thể như sau: Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình sơ cứu người bị thương; Hiện trường nơi xảy ra tại nạn giao thông đường bộ là đoạn đường KM0+70/QL279 thuộc khu vực khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; đây là đoạn đường ngã ba giao nhau cùng cấp mặt đường được trải bê tông nhựa A1n) và khô ráo; đường có một kẻ đường chia các phần đường riêng biệt, tại đoạn đường thẳng hướng Tuần Giáo đi điện B; KM0, QL279 mặt đường rộng 10,10m.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 239/TgT ngày 25/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ đã kết luận: Nguyên nhân chết của Lò Thị H1 là do đa chấn thương (Chấn thương sọ não kín, đụng dập não và chảy máu làn tỏa màng mềm toàn bộ hai bên bán cầu; vết thương phần mềm lóc da, dập nát cơ trên diện rộng).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 239/TgT ngày 25/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ đã kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tại nạn giao thông gây nên cho Phạm Ngọc A tại thời điểm giám định là 7% (Bảy phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 12/18/24/23/ĐC ngày 14/12/2022 của Viện pháp y Q - Bộ Y đã kết luận: Trong mẫu máu vụ Lò Thị H1, sinh năm 2007 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ gửi tới giám định ngày 09/12/2022 không tìm thấy các chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 13/19/25/23/ĐC ngày 14/12/2022 của Viện pháp y Q - Bộ Y đã kết luận: Trong mẫu máu vụ Lường Văn H, sinh năm 1986 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ gửi tới giám định ngày 09/12/2022 không tìm thấy các chất ma túy.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện T đã kết luận:

+ Đối với những bộ phận hư hỏng của chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Espero màu trắng bạc BKS 27AA-036.25, số khung 39FMB3430635, số máy B4PEJA430635, xe cũ đã qua sử dụng; tổng giá trị thiệt hại là 1.375.000đ.

+ Đối với những bộ phận hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA màu xanh BKS 26C-112.49, số khung RNHA49KHANT054198, số máy MD545432D4CB, xe cũ đã qua sử dụng; tổng giá trị thiệt hại là 10.750.000đ.

Ngày 12/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu thập được 01 đoạn Camera của Nhà hàng K và 02 đoạn Camera của Chi cục thuế khu vực T1 – Tủa Chùa ghi nhận hình ảnh vụ tai nạn giao thông trên. Ngày 02/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 192 trưng cầu phòng K1 công an tỉnh Đ tiến hành giám định tốc độ xe ô tô BKS 26C-112.49 do Lường Văn H điều khiển và xe gắn máy BKS 27AA-036.25 do Lường Thị Hồng điều khiển. Tại kết luận giám định số 1541/KL-KTHS ngày 06/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Tốc độ của xe ô tô tải xuất hiện trong nội dung tập tin Mẫu A1 tại thời điểm từ 0,133 giây đến 0,6 giây là xấp xỉ 35,5 Km/h; tại thời điểm 2,067 giây đến 2,6 giây là xấp xiwr 31,5km/h. Không xác định được tốc độ của xe gắn máy xuất hiện trong nội dung 02 tập tin Mẫu A2, A3 từ thời điểm 01 phút 04 giây trở đi so chất lượng hình ảnh ghi lại bị mờ, nhòe.

Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKS-TG ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường, các bên đã tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu 02 chiếc dép nhựa màu trắng, phía trên dép có chữ màu đen, 02 chiếc dép nhựa màu đen quai trắng trên quai có chữ N, 02 mũ bảo hiểm (ở cạnh phía trên xe gắn máy) trong đó 01 chiếc màu hồng, 01 chiếc màu đen tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; đề nghị HĐXX buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt của đại diện hợp pháp của Phạm Ngọc A đã có ý kiến: Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường, nên không yêu cầu bồi thường; xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đối với dép và mũ của cháu Phạm Ngọc A đã hỏng không còn giá trị nên đề nghị tiêu hủy. Đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại Lò Thị H1 có ý kiến: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, bị hại, nên không yêu Tòa án giải quyết; đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì sự việc xảy ra không ai mong muốn; đối với 02 chiếc dép và 01 mũ bảo hiểm thì không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 11/11/2022, trong khi điều khiển xe ô tô BKS 26C-112.49, bị cáo Lường Văn H do không quan sát hướng ngược chiều khi điều khiển xe đã tiến sang phần đường ngược chiều khi đang có xe đi thẳng cách xe bị cáo 1,5m, do không kịp xử lý nên cả hai xe đâm trực diện vào nhau dẫn đến Lò Thị H1 bị tử vong và Phạm Ngọc A thương tích 7%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về chuyển hướng xe tại khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã khiến cho bị hại Lò Thị H1 tử vong và bị hại Phạm Ngọc A thương tích 7%; do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS cụ thể: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) làm chết người…”

Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người người tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo cần được xử lý trước pháp luật thật nghiêm minh, đó là bài học cho chính bị cáo và cũng là bài học đối với những người khác khi tham gia giao thông đường bộ.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Ngày 20/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 09/7/2013 chấp hành xong về địa phương sinh sống, bị cáo đã được xóa án tích; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại; quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; từ những tình tiết đó xét thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên sau khi chấp hành án xong, bị cáo cần có điều kiện để lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng về tội danh, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại, đã bồi thường thiệt hại xong, không yêu cầu giải quyết; nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với 02 chiếc dép nhựa màu trắng, phía trên dép có chữ màu đen, 02 chiếc dép nhựa màu đen quai trắng trên quai có chữ N, 02 mũ bảo hiểm (ở cạnh phía trên xe gắn máy, trong đó 01 chiếc màu hồng, 01 chiếc màu đen) do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với anh Lò Văn H2 là chủ xe, tuy nhiên bị cáo và anh H2 đã có Hợp đồng, khi giao xe thì xe ô tô còn trong thời hạn kiểm định và đảm bảo kỹ thuật, bị cáo cũng đủ điều kiện để tham gia giao thông; do đó anh H2 không vi phạm pháp luật.

Đối với Lường Thị H3 là người đã cho H1 mượn xe, xét thấy thời điểm H3 cho H1 mượn xe khi H3 mới 15 tuổi 11 tháng nên H3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Lường Văn B là bố đẻ của H3, khi H3 cho H1 mượn xe, B không biết nên B không vi phạm pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lường Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại, đã bồi thường thiệt hại xong, không yêu cầu giải quyết.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 02 chiếc dép nhựa màu trắng, phía trên dép có chữ màu đen, 02 chiếc dép nhựa màu đen quai trắng trên quai có chữ N, 02 mũ bảo hiểm (ở cạnh phía trên xe gắn máy; trong đó 01 chiếc màu hồng, 01 chiếc màu đen) để tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần GiáT1).

5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lường Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại Lò Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30/5/2023); bị hại Phạm Ngọc A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình tại bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30/5/2023).

Cỡ chữ