vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Ph phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Đinh Văn Ph 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01Ph bì được niêmPh theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 534/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2023, bên trong là chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy loại heroine và toàn bộ vỏ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Ph tàng trữ Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Ph phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Đinh Văn Ph 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 82/2023/HS-ST
Ngày 16 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu, ông Bùi Khắc Thái.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Bùi Ngọc Tạo, là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên toà: ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2023/TLST- HS ngày 06/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Đinh Văn Ph, tên gọi khác: không, sinh năm 1982 tại huyện N, tỉnh N

Nơi cư trú: thôn T 2, xã Đ, huyện N, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đinh Văn N và bà Phạm Thị V; có vợ là Vũ Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: ngày 05/02/2023 bị Công an xã G, huyện G, tỉnh N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy“, chưa chấp hành, chưa được xóa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2023, chuyển tạm giam ngày 29/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: ông Nguyễn Văn T, anh Đinh Thành Tr– đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn Ph là người sử dụng ma túy, loại Heroine từ năm 2013. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/6/2023Ph đi nhờ xe của một người không quen biết từ nhà ở thôn T 2, xã Đ, huyện N đến khu vực đường đê xã G, huyện G để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi thìPh xuống xe, rồi đi bộ một mình đến đường nghĩa trang thuộc xã G, huyện G thì gặp một người nam giới (Phong không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện ma túy.Ph đi lại gần người này và hỏi:“Anh có ma túy không, bán cho em hai trăm”, người này hiểu ý củaPh nên đồng ý nói: “Ừ có đưa tiền đây”. Đinh Văn Ph lấy ra số tiền 200.000 đồng từ cạp quần đang mặc ra đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa choPh 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng.Ph mở gói nhỏ trên ra kiểm tra thấy bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, xác định đúng là ma túy, loại Heroine nên gói lại rồi cầm trên tay trái. Người nam giới sau khi bán ma túy choPh bỏ đi luôn. Sau đóPh đi nhờ xe của người đi đường không quen biết về xã Đ thì xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy.

Hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, khiPh đi bộ đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn NhoPh, xã Đ, huyện N thì gặp Tổ công tác huyện N phối hợp Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ. Tổ công tác phát hiện thấyPh có nhiều biểu hiện giống người nghiện ma túy nên đã yêu cầuPh đứng lại để kiểm tra. Khi gặp Tổ công tác, biết bản thân không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người nên Đinh Văn Ph đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng đang cầm trên tay trái và khai nhận đó là 01 gói ma túy, loại Heroine củaPh mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Đinh Văn Ph 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ thu giữ của Đinh Văn Ph có khối lượng cụ thể: là 0,23 gam (ký hiệu M) để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 534/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2298 gam, là ma túy, loại Heroine (Heroin)

Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêmPh. Tất cả được niêmPh trong Ph bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 534/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.

Quá trình điều tra, Đinh Văn Ph đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã ra quyết định chuyển 01Ph bì thư được niêmPh theo quy định của pháp luật bên trong là chất bột dạng cục mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy loại heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêmPh đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Tại Bản cáo trạng số 76/CT-VKSNQ- HS ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Đinh Văn Ph ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện N thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Văn Ph như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Đinh Văn Ph phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Xử phạt bị cáo Đinh Văn Ph từ 21 (hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáoPh; tịch thu tiêu hủy 01Ph bì được niêmPh theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 534/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2023, bên trong là chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy loại heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêmPh; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn Ph khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: xuất phát từ việc bản thân bị cáo Đinh Văn Ph muốn có ma túy sử dụng cho bản thân nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/6/2023Ph đi đến khu vực đường đê xã G, huyện G. Tại đây bị cáoPh gặp và mua được từ một người nam giới không quen biết 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Bị cáoPh đã mở ra kiểm tra thấy bên trong có chất bột dạng cục mầu trắng và xác định đó là heroine nên gói lại và cầm gói ma túy trên tay trái đi tìm nơi sử dụng. Hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, khiPh đi bộ đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn NhoPh, xã Đ, huyện N thì gặp Tổ công tác huyện N phối hợp Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ. Bị cáoPh đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng đang cầm ở tay trái cho Tổ tuần tra và khai nhận gói nhỏ là gói ma túy loại heroine màPh vừa mua để sử dụng cho bản thân. Như vậy, rõ ràng bị cáoPh đã có hành vi cất giấu trái phép 0,2298 gam, là ma túy, loại Heroine đúng như kết luận giám định, Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên nhằm để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và khối lượng Heroine mà bị cáo tàng trữ, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáoPh theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đinh Văn Ph không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét cần có một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo bằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo Đinh Văn Ph tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là thỏa đáng.

. Về xử lý vật chứng: đối với 01Ph bì được niêmPh theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 534/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2023, bên trong là chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy loại heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêmPh, là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo Đinh Văn Ph ngày 21/6/2023 (theo lời khai của Đinh Văn Ph) ở khu vực đường đê xã G, huyện G. Do bị cáoPh không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 BLHS; các Điều 106, 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Ph phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Đinh Văn Ph 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01Ph bì được niêmPh theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 534/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2023, bên trong là chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1770 gam, là ma túy loại heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêmPh. (đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện N và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N).

3. Về án phí: bị cáo Đinh Văn Ph phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ