vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Aphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thế A21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM THẾ A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Aphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS-ST
Ngày 15 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hóa;

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện H.H, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H.H, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Thế A, sinh ngày 29/12/1996 tại xã H.L, huyện H.H, tỉnh Nam Định; đăng ký thường trú và nơi ở: Xóm B, xã H.L, huyện H.H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1974 và bà Trần Thị T, sinh năm 1974; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.H, tỉnh Nam Định, “có mặt”.

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn M, “vắng mặt”;

- Người chứng kiến:

1. Bà Trần Thị T, “vắng mặt”;

2. Bà Mai Thị N, “vắng mặt”;

3. Ông Vũ Mạnh H, “vắng mặt”;

4. Ông Lê Văn P, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 31/5/2023, một nam thanh niên tên X - là bạn mới quen của Phạm Thế A gọi điện nhờ A mua hộ 500.000đồng ma túy đá để sử dụng, khi nào gặp X sẽ trả tiền cho A, A đồng ý. Cả hai hẹn gặp nhau tại nhà thờ đổ xã H.L, huyện H.H, tỉnh Nam Định. Sau đó A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 18H1- 723.60 từ nhà ở xóm B, xã H.L đi đến khu vực chợ Cồn thuộc tổ dân phố số 2, thị trấn Cồn, huyện H.H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy đá với giá 1.000.000đồng. A cầm 02 gói ma túy đá ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà thờ đổ xã H.L để gặp X. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, A đi đến khu vực xóm 7, xã H.L thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Văn Lý phát hiện bắt quả tang, thu giữ của A 01 hộp nhựa màu nâu bạc bên trong có 02 gói nilon màu đều chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M). A khai nhận đó là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của A 01 đoạn ống thủy tinh để sử dụng ma túy, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 18H1- 723.60 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 bên trong chứa các sim có số thuê bao 0858.417.336 và 0339.411.308. Quá trình điều tra A đã thành khẩn khai báo.

Tại bản kết luận giám định số 806/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nilon màu trắng trong phong bì thư niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,691 gam.

Cáo trạng số 83/CT-VKSHH, ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H.H đã truy tố bị cáo Phạm Thế Avề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H.H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,691 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân của Phạm Thế Alà hành vi vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thế Aphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên và bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, trong lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H.H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H.H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 31/5/2023, tại khu vực xóm 7, xã H.L, huyện H.H, bị cáo Phạm Thế Acó hành vi cất giấu trái phép 0,691 gam Methamphetamine trên tay trái với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện H.H đã truy tố là đúng.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thế Akhông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo A, bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ cơ sở kết luận nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với nam thanh niên tên X nhờ bị cáo A mua hộ ma túy để sử dụng, do A chưa nhận tiền và không biết rõ họ tên, địa chỉ đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra đã tách ra để xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

Số Methamphetamine đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy;

Đối với 01 đoạn ống thủy tinh có chiều dài khoảng 20cm bị cáo A dùng để sử dụng ma túy không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy;

Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 18H1-723.60 thu giữ của Phạm Thế A. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn M – là bố đẻ bị cáo, ông M không biết A sử dụng đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông M là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 bên trong chứa các sim có số thuê bao 0858.417.336 và 0339.411.308 là tài sản hợp pháp của bị cáo A. Qua xác minh số thuê bao 0971.482.532 mà nam thanh niên tên X sử dụng để gọi vào số 0858.417.336 đăng ký chính chủ tên Trần Thị H, sinh năm 1999 trú tại tổ dân phố số 18, thị trấn T.L, huyện H.H, tỉnh Nam Định nhưng chị H đã không sử dụng từ tháng 9 năm 2022, do đó không chứng minh được việc Xuân gọi điện cho bị cáo A để nhờ mua ma túy nên cần trả lại chiếc điện thoại cùng các sim trên cho bị cáo A là phù hợp với pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Phạm Thế Abị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Aphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thế A21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số Methamphetamine trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 806/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 01 đoạn ống thủy tinh có chiều dài khoảng 20cm.

Trả lại bị cáo Phạm Thế A01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 bên trong chứa các sim có số thuê bao 0858.417.336 và 0339.411.308.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H.H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.H ngày 08-9-2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.H).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phạm Thế Aphải nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thế Acó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ