- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Duy K 08 (T6) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (T6) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 16 (Mười sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2022.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HS-PT Ngày: 31-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Văn Tuấn.
Các Thẩm phán: ông Trần Quang Cường và ông Nguyễn Nhật Duật.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Minh Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 73/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Lê Duy K, do có kháng cáo của bị cáo Lê Duy K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Duy K; sinh ngày 26/7/1996 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu B, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Đoàn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 12/12/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 12/12/2022, Công an thị xã Q và Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q phối hợp kiểm tra hành chính, khi đến đoạn đường tại thôn N, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh phát hiện Lê Duy K, thấy lực lượng Công an đến gần do hoảng sợ K đã thả 01 túi ma túy (cầm bên tay trái) xuống đường thì bị phát hiện bắt quả tang. Vật chứng: {1} Thu giữ dưới nền đường, cạnh nơi K đứng: 01 túi nilon màu trắng được hàn kín 3 đầu, đầu còn lại có khóa kẹp bị rách góc bên trong chứa 02 đoạn ống hút nhựa trắng (01 đoạn bọc lớp giấy màu vàng và 01 đoạn bọc lớp giấy màu trắng) chứa chất tinh thể màu trắng được hàn kín 02 đầu (Ký hiệu M1 và M2); {2} Thu giữ của K: 01 điện thoại Oppo màu xanh đen cũ, gắn sim 0986.901.642 và 01 điện thoại Nokia màu đen cũ, gắn sim 0363.273.406. Nguồn gốc số ma túy K khai:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 11/12/2022, Vũ Văn N rủ K xuống đầm của P để sử dụng ma túy (N là người quen đến trông và ở nhờ tại đầm của gia đình do Nguyễn Đăng P1 quản lý, sử dụng và trực tiếp trông coi tại khu A, phường H, thị xã Q từ ngày 10/12/2022), tại đầm K bỏ bộ D sử dụng ma túy có sẵn ma túy (N mua của người đàn ông tên C tại phường T giá 300.000đ đã sử dụng một phần) ra giường, K tự châm lửa sử dụng ma túy trước, N dùng 02 lượt rồi cả 2 đi ngủ. Đến 13 giờ cùng ngày, P1 về đầm, thấy còn ma túy P1 sử dụng 02 lần rồi đi làm.
Đến 18 giờ cùng ngày, K và N thống nhất mua 1.000.000đ ma túy đá về sử dụng, K góp 500.000đ, N góp 500.000đ, K gọi điện cho Q (người Hải Phòng không rõ lai lịch) để mua. Khoảng 20 giờ 30 phút, Q đến đầm của P1 giao ma túy, K trả Q 1.000.000đ tiền ma túy và 600.000đ tiền taxi; N mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra, Q bỏ ma túy vào nỏ thủy tinh, Q sử dụng ma túy, sau đó đến K rồi đến N lần lượt sử dụng cho bản thân. Khi Q, K và N đang sử dụng ma túy thì P1 đến, P1 tự sử dụng 3, 4 lượt rồi rời đi; Sau đó Q, K, N tiếp tục sử dụng đến khoảng 22 giờ thì Q về, K và N ở lại ngủ.
Khoảng 07 giờ sáng ngày 12/12/2022, N gọi P1 xuống đầm sử dụng ma túy, khoảng 07 giờ 20 P1 xuống đầm và lấy bộ dụng cụ ra để tự sử dụng ma túy 02 lần rồi đi ra đầm làm việc. Khoảng 11 giờ, ngày 12/12/2022, Nguyễn Thị T2 gọi cho K để mua 4 viên thuốc lắc và 1.000.000đ ma túy đá. K báo giá 4 viên thuốc lắc 2.000.000đ và 1.000.000đ ma túy tổng cộng là 3.000.000đ. T2 đồng ý và đi theo định vị K gửi đến đầm nhà P1 giao 3.000.000đ cho K và chờ K đi lấy ma túy. K sang Hải Phòng mua của Q 4 viên thuốc lắc giá 1.200.000đ (300.000đ/viên) và 1gam ma túy đá giá 1.200.000đ. Sau khi mua được ma túy, K về chia một lượng ma túy đá cho vào túi nilon màu trắng cùng 04 viên thuốc lắc bán cho T2 tại khu cổng chào thuộc khu B, phường T, thị xã Q vào khoảng 13 giờ. Đến 14 giờ cùng ngày, Hà Minh T3 gọi K mua 500.000đ ma túy đá, K đồng ý giao dịch tại đầm của P1 và sẻ một lượng ma túy đá (cho vào túi nilon màu trắng) đưa N mang ra giao cho T3, N (bỏ túi ma túy vào bao thuốc lá) ra cửa chưa thấy T3 đã vứt gói ma túy tại cửa nhà đầm rồi quay vào. Khi T3 đến, N mở cửa, chỉ chỗ để ma túy cho T3 và nhận 500.000đ đưa K. Sau khi giao dịch khoảng 10 phút, T3 gọi K mở cửa cho vào đầm để nhờ bộ dụng cụ sử dụng ma túy, T3 vào và đổ túi ma túy vừa mua của K vào dụng cụ để sẵn trên giường rồi sử dụng trước 03 lượt, sau đó T3 để K và N cùng sử dụng rồi T3 cất bộ ma túy vào thùng xốp.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, P1 về đầm thấy N, K và T3 đang chơi điện tử thì hỏi có còn ma túy không, K bảo P1 xem còn thì dùng, P1 thấy còn ma túy đã tự châm lửa sử dụng 02 lượt ma túy rồi P1 đi đánh cá. Trước đó, Nguyễn Văn T4 gọi N hỏi có ma túy không để ra sử dụng, Nam thông tin với K, K bảo N gọi T4 xuống đầm mà sử dụng ma túy và bỏ 01 túi ma túy đá ra giường, khoảng 19 giờ 30 phút T4 đến, T3 ra mở cửa, N lấy ma túy cho vào bộ dụng cụ, T4 bật lửa thì hết ga nên đưa 50.000đ cho T3 đi mua bật lửa và nước uống; Khi T3 đi, T4 tìm được bật lửa khác và tự châm lửa hút 3 lần thì hết ma túy; Khoảng 20 giờ cùng ngày, K mượn xe của T4 đi mua đồ ăn, khi đến đoạn đường tại thôn N, xã T thì bị bắt, thu giữ vật chứng.
Khoảng 21 giờ, T4 gọi Vũ Văn L đến sử dụng ma túy, T4 bỏ ra 01 túi ma túy đá (mua của T5 sinh năm 1987 ở khu T, phường T), đổ vào bộ dụng cụ, T4 châm lửa cho ma túy nóng chảy để L tự sử dụng sau khi sử dụng ma túy xong, L cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào thùng xốp. Khoảng 22 giờ 50 phút, N ra cổng ngồi thì P1 về đầm. Trong nhà đầm lúc này có T4, T3 và L đang ngồi chơi điện tử.
Căn cứ lời khai của Lê Duy K, hồi 23 giờ ngày 12/12/2022. Đội Cảnh sát điều tra về kinh tế - ma túy, Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường H, thị xã Q kiểm tra đầm thủy sản của P1 bắt khẩn cấp Vũ Văn N, Nguyễn Đăng P1, Hà Minh T3, Nguyễn Văn T4 và khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn N không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kiểm tra hành chính nhà ngoài đầm của Nguyễn Đăng P1 hồi 23 giờ 15 phút cùng ngày thu giữ: trong thùng xốp sát tường tại phòng ngủ có 01 chai nhựa hình trụ tròn, màu trắng nắp vàng, trên nắp đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng dài 13cm, 1 đầu hình bầu tròn bám dính chất bột màu trắng (Ký hiệu M1), 01 đầu gắn ống nhựa màu xanh sọc trắng dài 09cm, lỗ còn lại gắn 01 ống hút nhựa màu trắng dài 30cm; dưới chân giường ngủ 02 bật lửa (01 chiếc màu xanh và 01 chiếc màu tím) và 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 03cm hàn kín 01 đầu bên trong bám dính chất bột màu trắng (Ký hiệu M2).
Thu giữ của Nguyễn Đăng P1 01 điện thoại di động Samsung A12 màu đen và thu giữ của Vũ Văn L 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đã cũ gắn sim số 0377.078.807 đã trả lại cho P1 và L ;
Thu giữ của Nguyễn Văn T4 01 điện thoại di động Realme màu xanh tím đã cũ gắn sim số 0346.460.025;
Thu giữ của Hà Minh T3 01 điện thoại di động iPhone màu ghi bạc cũ;
Biên bản khám nghiệm hiện trường tại khu vực nhà đầm của Nguyễn Đăng P1 thuộc khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Kết luận giám định 1988/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q: chất tinh thể màu trắng trong 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu, vật chứng thu giữ của Lê Duy K ngày 12/12/2022 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng M1: 0,134gam và M2: 0,085gam. Hoàn lại giám định: M1: 0,08gam và M2: 0,04gam.
Kết luận giám định 1990/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q: chất cặn màu xám trắng dạng vết trong bầu ống thủy tinh (Ký hiệu M1) và chất bột màu trắng dạng vết (Ký hiệu M2) vật chứng thu giữ của Nguyễn Đăng P1, Vũ Văn L, Hà Minh T3, Vũ Văn N và Nguyễn Văn T4 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: dạng vết không xác định được.
Kết luận giám định 2010/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Đăng P1, Vũ Văn L, Hà Minh T3, Vũ Văn N, Lê Duy K và Nguyễn Văn T4.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo: Lê Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Lê Duy K 08 (T6) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (T6) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 16 (Mười sáu) năm tù.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo Vũ Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P1 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Hà Minh T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; quyết định xử lý vật chứng; án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/8/2023 bị cáo Lê Duy K làm đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Duy K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị cáo thừa nhận bị Tòa cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội không oan; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất, mức độ hành vi, vai trò của bị cáo, đánh giá các tài liệu mới gia đình bị cáo cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Duy K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Lê Duy K làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hình sự phúc thẩm bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội không oan, nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tuyên xử bị cáo Lê Duy K 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp các tài liệu như: đơn xin xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình; giấy khen của ông Lê Văn T (bố đẻ của bị cáo) có thành tích trong công tác Hội phong trào nông dân, phong trào toàn dân đoàn kết. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện nội dung vụ án, căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
[4] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Duy K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: không nhận kháng cáo của bị cáo Lê Duy K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Duy K 08 (T6) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (T6) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 16 (Mười sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2022.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo bị cáo Lê Duy K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - CQTHAHS, CQCSĐT Công an thị xã Quảng Yên; - VKS, TAND, Chi cục THA DS thị xã Quảng Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Văn Tuấn |