- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn, giữa chị Lò Thị Q + anh Lò Văn S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Q được ly hôn với anh Lò Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Thiệp;
Bà Lý Thị Vinh;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 23 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị Q; Địa chỉ: Bản N, xã CP, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lò Văn S; Địa chỉ: Bản N, xã CP, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2023, Bản tự khai và Biên bản lấy lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Lò Thị Q trình bày:
Về tình cảm: Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S kết hôn với nhau từ ngày 05/4/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đã sống ly thân từ ngày 14/10/2022, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị Q yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn S.
Về con chung: Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S có 02 con chung: Cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011, cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013. Nay ly hôn chị Lò Thị Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011 và tự nguyện để cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị Q không yêu cầu anh Lò Văn S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/8/2023 bị đơn anh Lò Văn S trình bày:
Về tình cảm: Anh Lò Văn S và chị Lò Thị Q kết hôn với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc không phát sinh mâu thuẫn. Chị Lò Thị Q tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị Lò Thị Q tháng 10/2022, anh Lò Văn S có xuống đón nhưng chị Lò Thị Q không về. Nguyên nhân do chị Lò Thị Q muốn ra ở riêng. Nay chị Lò Thị Q yêu cầu ly hôn, anh Lò Văn S không nhất trí.
Về con chung: Anh Lò Văn S và chị Lò Thị Q có 02 con chung: Cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011, cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013. Nay ly hôn anh Lò Văn S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Lò Thị Quỳnh N, cháu Hùng Mạnh đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn S không yêu cầu chị Lò Thị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Biên bản xác minh ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S: Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 2011, tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính quyền không rõ. Hiện nay chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.
Biên bản xác minh ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về nơi cư trú của anh Lò Văn S: Anh Lò Văn S có hộ khẩu thường trú và hiện tại đang sinh sống tại Bản N, xã CP, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Lò Thị Q nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.
Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/9/2023 nguyên đơn chị Lò Thị Q trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Lò Thị Q đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Lò Thị Q về việc giải quyết vụ án: Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn S; về con chung: có 02 con chung: Cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011, cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013. Nay ly hôn chị Lò Thị Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Quỳnh N và tự nguyện để cháu Lò Hùng M cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành. Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung: Cam đoan không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị Q đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn S đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn S đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Q được ly hôn với anh Lò Văn S.
Về con chung: Giao cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011 cho chị Lò Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lò Thị Q, anh Lò Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Lò Thị Q khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Lò Văn S có địa chỉ tại Bản N, xã CP, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lò Thị Q đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung. Xét đây là sự tự nguyện rút yêu cầu của nguyên đơn, không bị ép buộc, lừa dối, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Căn cứ Điều 5, Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Lò Văn S vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị Q, bị đơn anh Lò Văn S.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 22/11/2011, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị Lò Thị Q cho rằng do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Hiện nay chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đã sống ly thân. Anh Lò Văn S cho rằng vợ chồng không có mâu thuận, nhưng thừa nhận hai vợ chồng đã sống lý thân từ tháng 10/2022 cho đế nay. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương xác nhận chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S có phát sinh mâu thuẫn, hiện nay chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S đã sống ly thân. Anh Lò Văn S đã được Toà án thông báo hợp lệ để hoà giải, anh Lò Văn S không có mặt, do vậy Toà án không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ anh Lò Văn S không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Lò Thị Q được ly hôn với anh Lò Văn S. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung:
Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S có 02 con chung: Cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011, cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013. Nay ly hôn chị Lò Thị Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Lò Thị Quỳnh N và tự nguyện giao cháu Lò Hùng M cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành. Anh Lò Văn S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu.
HĐXX nhận thấy: Chị Lò Thị Q, anh Lò Văn S đều có công việc ổn định, để đảm bảo cuộc sống của các con, chị Lò Thị Q đã tự nguyện giao cháu Lò Hùng M cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Mặt khác cháu Lò Thị Quỳnh N là con gái, sinh năm 2011 độ tuổi đang phát triển về tâm sinh lý, nên cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ mới đảm bảo cho việc phát triển tâm sinh lý. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, phù hợp với phong tục tập quán, cấn chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị Q. Giao cháu Lò Thị Quỳnh N cho chị Lò Thị Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Lò Hùng M cho anh Lò Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Chị Lò Thị Q, anh Lò Văn S không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh Lò Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về nợ chung: Không có.
. Về án phí: Chị Lò Thị Q là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị Lò Thị Q có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho chị Lò Thị Q.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Q được ly hôn với anh Lò Văn S.
2. Về con chung: Chị Lò Thị Q và anh Lò Văn S có 02 con chung: Cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011, cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013.
Giao cháu Lò Thị Quỳnh N, sinh ngày 26/3/2011cho chị Lò Thị Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Lò Hùng M, sinh ngày 26/7/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Chị Lò Thị Q, anh Lò Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị Q. Chị Lò Thị Q được hoàn lại số tiền 3.760.000 đồng (Ba triêu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai thu số: AA/2021/0003430, ngày 06/7/2023.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị Q; bị đơn anh Lò Văn S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND h.Thuận Châu ( 2 bản ); - UBND xã PL, h.Thuận Châu, - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |