- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H-Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà, cho chị Hà được ly hôn anh Nguyễn Văn Phong
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-12-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Luyến
2. Bà Mai Thị Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXX-ST, ngày 02 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hà - Sinh năm 1992
Địa chỉ: Khu phố Xuân Nội, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Phong - Sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Bạch Hải, xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 07/9/2023, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà trình bày: chị và anh Phong kết hôn ngày 17/12/2020, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga Bạch cấp đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: anh Phong đi làm công trình, thường xuyên uống rượu say, quậy phá gia đình và đe dọa đánh chị, trong khi chị đang mang thai con đầu. Do tâm lý lo sợ nên chị xin về nhà ngoại ở để dưỡng thai. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2021, trong thời gian sống ly thân chị và anh Phong không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị đề nghị giải quyết ly hôn anh Phong theo quy định. Về con: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 31/10/2021, từ khi sinh ra cháu ở với mẹ. Cháu bị bệnh tim bẩm sinh, đang còn bú sữa mẹ. Từ ngày 02/9/2023, anh Phong xin cho hai mẹ con về bên nội chơi hai ngày, sau hai ngày chị xin về ngoại để tiện đi làm và chăm con thì anh Phong không cho chị mang con về cùng. Hiện tại gia đình anh Phong đang giữ con, không cho chị đón con chăm sóc. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con, yêu cầu anh Phong cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/tháng; Về sản chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Phong trình bày: về hôn nhân: Thời gian kết hôn và nơi đăng ký kết hôn anh nhất trí như ý kiến chị Hà trình bày. Vợ chồng chung sống đến tháng 4 năm 2021, chị Hà xin gia đình anh về ngoại ở một thời gian, không có việc anh đe dọa hay quậy phá. Từ ngày chị Hà ở nhà bố mẹ đẻ cho đến ngày sinh con, do anh đi làm xa nên anh đồng ý cho chị Hà sinh cháu ở nhà ngoại. Trong thời gian đó đến giờ anh thường xuyên qua lại chăm sóc vợ con, hàng tháng anh vẫn chu cấp để vợ con anh sinh hoạt. Vợ chồng chưa có sự thỏa thuận nào về việc ly thân như chị Hà viết trong đơn. Ngày 02/9/2023, vợ chồng anh quyết định đưa con về nhà nội để sinh sống. Ngày 07/9/2023, chị Hà xin đi làm hết tuần nghỉ về Nga Sơn làm và chăm con. Khi chị Hà đi làm thì nhắn tin cho anh là không về nữa, không có việc gia đình dọa nạt, đánh đuổi như chị Hà trình bày. Anh đã nhắn tin bảo chị Hà về nhưng chị cương quyết không đồng ý. Chị Hà đề nghị ly hôn, anh không đồng ý; về con: vợ chồng có 01 con chung như chị Hà trình bày. Cháu Nguyễn Đức Minh hiện đã cai sữa, không còn bú mẹ, bản thân cháu bị bệnh tim bẩm sinh. Thời gian cháu sống ở nhà bố, mẹ đẻ chị Hà cháu có biểu hiện của bệnh tự kỷ, tăng động nhẹ. Từ ngày 02/9/2023, cháu về sống ở nhà nội, cháu có biểu hiện tiến triển tốt. Nếu ly hôn, anh xin được nuôi con vì anh đi làm có kinh tế, bản thân chị Hà công việc không ổn định, không đảm bảo để chăm sóc con; không yêu cầu chị Hà cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: vợ chồng có tiền mặt ,vàng, cụ thể: chị Hà đang giữ 1,5 cây vàng 9999; tiền mặt là 110.000.000đ. Nếu vợ chồng đoàn tụ thì anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu vợ chồng ly hôn anh sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết và nộp tiền án phí theo thông báo của Tòa án sau.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Hà và anh Phong thuận tình ly hôn; về con: hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con; về tài sản hai bên thỏa thuận: chị Hà trả lại cho anh Phong 55.000.000đ và 5,5 chỉ vàng 9999 vào ngày 30/11/2023 và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.
Đến ngày 17/11/2023, chị Hà đã trả tiền và vàng cho nên các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản; về con: anh Phong đồng ý giao con cho chị hà trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa ngày 30/11/2023, mặc dù anh Phong đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Hà vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị vẫn yêu cầu được ly hôn anh Phong; về con: chị đề nghị được trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh Phong cấp dưỡng 1.000.000/tháng; về tài sản: hai bên tự thỏa thuận phân chia xong nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với bị đơn anh Phong được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Hà và anh Phong.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện các quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự..
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà, cho chị Hà được ly hôn anh Phong.Về con: Giao cháu Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 31/10/2021 cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng; anh Phong có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Hà, anh Phong phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hà và anh Nguyễn Văn Phong kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn theo chị Hà trình bày là do anh Phong đi làm công trình, thường xuyên uống rượu say, quậy phá gia đình và đe dọa đánh chị, trong khi chị đang mang thai; theo anh Phong, vợ chồng không có mâu thuẫn gì phát sinh, do chị Hà xin đi làm và nhắn tin không muốn trở về gia đình nữa. Thực tế, chị Hà và anh Phong mỗi người sinh sống mỗi nơi, chị Hà đề nghị ly hôn, anh Phong cũng nhất trí. Xét cuộc sống chung của Hà và anh Phong đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị Hà được ly hôn anh Phong.
Về con: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 31/10/2021. Sau ly hôn, chị Hà đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh, anh Phong đồng ý để con cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: chị Hà yêu cầu anh Phong cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ/tháng;
Xét yêu cầu của các đương sự anh Phong đồng ý giao con cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện. Qua xác minh ngày 13/10/2023 tại UBND xã Nga Bạch thì cháu Minh đang sinh sống cùng anh Phong. Tuy nhiên, từ ngày 17/11/2023, anh Phong đã giao con cho chị Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét việc giao con của các bên là tự nguyện, cháu Minh còn nhỏ, bị bệnh tim bẩm sinh nên cần sự chăm sóc từ người mẹ hơn. Vì vậy, giao cháu Minh cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế và quy định của pháp luật.
* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà đề nghị anh Phong cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/tháng. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Phong là lao động tự do, thu nhập không ổn định, mức cấp dưỡng nuôi con chị Hà yêu cầu không cao nên HĐXX chấp nhận buộc anh Phong thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hà là 1.000.000đ/tháng; thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu Minh đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Các đương sự tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Hà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định. Anh Phong phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà, cho chị Hà được ly hôn anh Nguyễn Văn Phong
2. Về con: Giao cháu Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 31/10/2021 cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng; anh Phong thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng; thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu Minh đủ 18 tuổi. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hà phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0016594 ngày 28/9/2023 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Hà đã nộp đủ án phí DSST.
Anh Phong phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Chị Hà, anh Phong có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Bình
Phạm Bá Luyến
Lê Thị Huệ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã Nga Bạch; - Lưu hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân Mai Thị Bình Phạm Bá Luyến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huệ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |